Saint Augustine, Florida

Nếu là người thích những câu chuyện bắt đầu bằng hai chữ “ngày xưa”, hẳn bạn sẽ rất hứng thú với thành phố này. Saint Augustine là thành phố đầu tiên của nước Mỹ, được người Tây Ban Nha thành lập năm 1565 khi chiến thuyền của họ cập bến Tân Thế giới.

Cho đến bây giờ, nơi đây vẫn giữ được những màu sắc đậm đà của nền văn hóa Địa Trung Hải dù đã có gần 500 năm nằm bên bờ Đại Tây Dương.

Nơi lịch sử bắt đầu

St. Augustine thuộc tiểu bang Florida-Hoa Kỳ, là một thành phố nhỏ bé nhưng lại có rất nhiều cái “đầu tiên” ở Mỹ ghi trong bảng thành tích của nó. Trước hết nó là thành phố đầu tiên, mà sau này là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, có nhóm người Âu châu di dân vĩnh viễn đầu tiên đến đây. Là nơi mà Thánh lễ Công giáo đầu tiên được cử hành tại Hoa Kỳ. Là nơi đầu tiên đền Đức Bà được xây cất (đền này tọa lạc tại thánh đường Mission Nombre de Dios). Nơi mà tổ chức Truyền giáo tiên khởi (đầu tiên) ở Mỹ của giáo hội Công giáo được thành lập để đến với người bản xứ (the American Indian) tại lục địa bắc Mỹ này.

Saint Augsutine là nơi tổ chức buổi lễ nhà thờ đầu tiên của nước Mỹ

Saint Augustine thuộc bang Florida, được người Mỹ xem là thành phố cổ. Tất nhiên khái niệm “cổ” của người Mỹ là để so sánh với các thành phố của Mỹ chứ không thể so với những thành phố cổ cả ngàn năm ở những lục địa khác.

Lịch sử ghi lại rằng thuyền trưởng Pedro do Menéndez de Aviles của Tây Ban Nha nhìn thấy dải đất này lần đầu tiên vào đúng ngày lễ thánh Augustine, lúc đang ở trên con tàu của mình. Khi cập vào đất liền (ngày 8-9-1565), ông quyết định xây dựng thành phố và pháo đài tại đây, đồng thời đặt tên vùng đất này theo tên ngày lễ thánh.

Đến năm 1763, người Tây Ban Nha buộc phải nhường quyền kiểm soát Florida (trong đó có thành phố Saint Augustine) cho người Anh. Tuy nhiên người Anh chỉ sở hữu thành phố này trong 20 năm, sau đấy họ phải trả Florida cho người Tây Ban Nha. Đến năm 1821, Tây Ban Nha bán Florida cho nước Mỹ (lúc này đã thành lập) với giá 5 triệu USD và kết thúc vĩnh viễn quyền quản lý của mình trên dải đất xinh đẹp này. Tuy nhiên, những di sản văn hóa mà người Tây Ban Nha để lại không bị xóa nhòa, mà trở thành một trong những niềm tự hào của nền văn hóa Mỹ ngày nay.

Sắc đỏ chiếm ưu thế trong các kiến trúc của Saint Augustine

Ấn tượng đầu tiên của chúng tôi khi đến đây là ánh nắng chói lòa của vùng nhiệt đới chiếu lấp lánh trên vịnh biển và chiếu trên dáng vẻ sừng sững của vòng thành Castillo de San Marcos được xây cách đây hơn 300 năm. Người xưa mất 23 năm để hoàn thành bức tường thành này bằng vỏ ốc, vỏ sò và san hô. Điều kỳ lạ là trải qua hàng trăm năm, từng đối đầu với bao nhiêu cơn sóng thần và những trận chiến, bức tường này vẫn chưa một lần bị “hạ gục”, hiểu theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen.

Castillo de San Marcos

Người Tây Ban Nha xây dựng bức tường này, cũng như xây dựng pháo đài Mose ở phía bắc và pháo đài Matanzas ở phía nam thành phố để bảo vệ vùng đất đã chiếm được. Đối với người dân thành phố Saint Augustine, bức tường này là biểu tượng cho ý chí quyết tâm và sự vững bền. Ngày nay, nơi đây trở thành nơi tập trung các hoạt động văn hóa nghệ thuật của thành phố, từ diễu hành đến các cuộc triển lãm tranh ảnh hoặc biểu diễn âm nhạc…

Những người lính gác vẫn xuất hiện, nhưng chủ yếu là để chụp ảnh cùng du khách và để lũ trẻ ngưỡng mộ vây quanh. Mùa hè, chen chân mua vé vào được bên trong tường thành là cả một kỳ công vì lượng khách du lịch quá đông. Người ta còn khuyên rằng khi vào đây tham quan nên cầm theo chai nước, vì trời thường nắng, phải đợi lâu và rất chóng mệt. Trong khi đó, vào những mùa gió bão, Castillo de San Marcos đóng cửa im ỉm, quay lại vẻ lặng lẽ uy nghi của một di tích không hề nao núng trước thời gian.

Lớp học đầu tiên của nước Mỹ

Lịch sử cũng được ghi lại trên các con đường nhỏ của Saint Augustine, nơi bây giờ đã trở thành những con phố shopping dành cho khách du lịch. Ngay ngã rẽ vào con đường nhỏ đầu tiên, có thể thấy lớp học đầu tiên của nước Mỹ. Đó là một ngôi nhà gỗ nhỏ, có ô cửa sổ mở ra và một cô giáo trẻ (mô hình búp bê) thò đầu ra gọi các em học sinh vào lớp.

Cạnh lớp học xưa, con phố được tiếp nối với những ngôi nhà thấp thấp quét vữa trắng hoặc đỏ, mang đậm phong cách Địa Trung Hải, được xây dựng lại vào những năm 1960-1970 khi thành phố tổ chức kỷ niệm 400 năm. Bây giờ, những ngôi nhà này đều trở thành cửa hàng lưu niệm, nhà hàng, khách sạn cổ.

Flagler College-St Augustine

Điểm nhấn trong kiến trúc của Saint Augustine là Đại học Flagler. Ngôi trường này gây ấn tượng với kiến trúc mái vòm tròn và màu sơn vani viền nâu đậm. Trước kia, tòa nhà này là Khách sạn Ponce de Leon do Henry Flagler sở hữu. Đây là khách sạn được xây dựng đầu tiên tại Saint Augustine, khi thành phố bắt đầu trở thành điểm thu hút giới nhà giàu Mỹ vào cuối thế kỷ XIX. Ngôi trường được nhiều người biết đến vì nó xuất hiện trong các tấm ảnh của hầu hết những du khách đến với Saint Augustine.

Bảo tàng Lightner
Lightner Museum

Ngoài ra, nếu có thời gian, du khách thường tham quan Bảo tàng Lightner (mở cửa từ năm 1889), nơi trưng bày từ các xác ướp đến những bộ sưu tập thủy tinh và pha lê. Saint Augustine còn lưu lại cả những di tích cũ của bệnh viện và nghĩa trang từ thế kỷ XVI được xây dựng kể từ khi những người dân Tây Ban Nha đến sinh sống tại vùng đất này. Rất nhiều những cái “đầu tiên” kể lại lịch sử sinh động của thời Tân Thế giới mới được khai phá…

Thành phố cổ rực rỡ

Một góc phố mang đậm phong cách Địa Trung Hải

Mùa hè, Saint Augustine đón du khách từ khắp nơi trên thế giới. Người dân Florida vốn không lạ gì Saint Augustine nhưng vẫn thích đến đây vì không khí đầy chất lễ hội của thành phố ấm áp này. Mặc dù đã trên 500 năm tuổi nhưng Saint Augustine không có cái vẻ âm u cổ kính, mà lúc nào cũng rực rỡ như còn rất son trẻ. Ánh nắng, những chậu hoa nhiều màu sắc, dòng du khách tấp nập, những con phố nhộn nhịp… đều toát lên sức sống và niềm vui. Có lẽ đó cũng là nét văn hóa riêng của vùng đất nhiệt đới này.

St. Augustine’s Bridge of Lions – Matanzas Bay

Thoát hẳn những tòa nhà chọc trời và những đường phố ồn ào, đông đúc, ở Saint Augustine, người ta có thể tận hưởng cảm giác mình có thời gian, có không gian, có tiền và cũng có vô số thứ xứng đáng để tận hưởng. Đó có thể đơn giản là cảm giác nhẹ nhàng khi đi dạo trên các con phố lát đá, ngồi nhâm nhi cà phê trong một quán cổ có phong cách là lạ, mua sắm những món đồ trang trí độc đáo, ngắm mặt trời mọc trên Đại Tây Dương và lặn trên những đầm lầy (Florida có rất nhiều vùng đầm lầy); hoặc cảm giác mạnh khi tham gia vào các môn thể thao như xe đạp, chèo thuyền, lặn, lướt ván…

Saint Augustine cũng là nơi tập trung các câu lạc bộ golf và sân golf nổi tiếng, chỉ cách thành phố khoảng 20 phút chạy xe. Golf là điểm mạnh nhất của Saint Augustine để thu hút giới nhà giàu. Tất nhiên đi cùng với sân golf là những dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp khác.

Những chiếc xe lửa đỏ chở du khách đi tham quan khắp thành phố

Kiến trúc cao tầng của Saint Augustine cũng có nét độc đáo riêng

Chúng tôi có thời gian để thưởng thức một bữa trưa Mexico tại một nhà hàng nhỏ, nhìn ngắm du khách tấp nập trên phố cổ và mua một ít chocolate Whetstone vỏ sò nổi tiếng ở đây để nhâm nhi dọc đường tham quan.

Ngoài những di tích lịch sử, Saint Augustine còn là một trong số những thành phố đi đầu nước Mỹ trong việc sáng tạo thêm những điểm tham quan du lịch. Trang trại cá sấu của Saint Augustine mở cửa năm 1908 là điểm thu hút du khách lâu đời nhất ở Florida. Bể cá Marine Land của Saint Augustine mở cửa năm 1938 là bể cá nhân tạo đầu tiên trên thế giới. Cả Bảo tàng Sáp tại Saint Augusitne cũng là bảo tàng sáp đầu tiên của nước Mỹ.

Từ Saint Augustine tới Orlando để tham quan Công viên Disney Land cũng khá gần, còn đi Miami hay đến Khu bảo tồn sinh thái tự nhiên Everglades không quá xa… Vị trí thuận lợi, khí hậu ấm áp, lịch sử đầy ắp và những điều độc đáo giúp Saint Augustine trở thành một trong những nơi tham quan thú vị của nước Mỹ.

Những Điều Tốt Nhất Nên Làm Khi Đến Thành Phố St. Augustine, Florida

Được thành lập cách đây 450 năm, Saint Augustine thuộc bang Florida, được người Mỹ xem là một trong các thành phố cổ của Hoa Kỳ. Tất nhiên khái niệm “cổ” của người Mỹ là để so sánh với các thành phố của Mỹ chứ không thể so với những thành phố cổ cả ngàn năm ở những lục địa khác. St. Augustine, FL là nơi có các điểm tham quan lịch sử quan trọng, bảo tàng đa dạng, nhà nghỉ lãng mạn và các điểm tham quan độc đáo. Dưới đây là những địa điểm tốt nhất ở  St. Augustine, FL mà bạn nên ghé thăm.

Castillo de San Marcos

Tọa lạc tại thành phố St Augustine, khu vực The Castillo de San Marcos là pháo đài lâu đời nhất tại Mỹ. Castillo de San Marcos nằm trên bờ phía tây của vịnh Matanzas và là một trong những điểm tham quan phổ biến nhất ở St. Augustine.  Với diện tích 20,5 mẫu Anh với những không gian xanh – Nơi đây có nhiều điểm tham quan thú vị dành cho du khách. Bạn có thể xem triển lãm vũ khí, hoặc xem các diễn viên trong trang phục thời kỳ xưa, khám phá lịch sử của pháo đài.

1 South Castillo Drive, St. Augustine, Florida

Bảo tàng Lightner, St. Augustine, FL

Bảo tàng Lightner nằm trong khách sạn Alcazar lịch sử trên phố King Street ở trung tâm thành phố Saint Augustine. Nằm trong danh bạ các địa điểm lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ, được xây dựng vào năm 1887 theo phong cách Phục hưng của Tây Ban Nha. Bộ sưu tập của viện bảo tàng nhấn mạnh các tác phẩm tranh, điêu khắc,…từ thời Victoria.

75 King Street, St. Augustine, Florida, 904-824-2874

Trại nuôi cá sấu St. Augustine

Trại nuôi cá sấu St. Augustineđược thành lập vào năm 1893 dưới dạng một cuộc triển lãm bò sát ở Florida và nhanh chóng trở thành điểm thu hút của Florida. Ngày nay, nó là một vườn thú trên đảo Anastasia bao gồm rất nhiều loài cá sấu khác nhau. Nếu bạn quan tâm đến động vật, đây là một trong những nơi tuyệt vời để ghé thăm.

999 Anastasia Blvd, St. Augustine, FL, 904-824-3337

Với khí hậu hoàn hảo, Old City là một nơi tuyệt vời và hấp dẫn để khám phá. Nơi đây có nhiều địa danh lịch sử như Castillo de San Marcos, bảo tàng Ánh sáng, quán bar, quán cà phê, nhà nghỉ và cửa hàng. Một trong những điểm tham quan lịch sử thú vị nhất là Old St Augustine Village. Bao gồm 9 căn nhà có từ năm 1790 đến năm 1910. Bên cạnh những ngôi nhà, có những khu vườn và sân vườn xinh đẹp.

Khu bảo tồn Quốc gia Fort Matanzas

Công Viên Quốc Gia Grand Teton

Huỳnh Văn Ba – Exryu USA 

Sau ba ngày đi chơi trong công viên quốc gia Yellowstone chúng tôi chạy về hướng cửa Nam, từ đó lấy đường 287 dẫn về Grand Teton. Thực ra hai công viên này nằm liên kết với nhau, vì thế vé vào cửa sẽ dùng cho cả hai trong vòng một tuần lễ.

Với diện tích là 1,300 km2 Grand Teton chỉ hơn 1/7 của Yellowstone một tí cho nên việc đi chơi cũng ít mất thì giờ hơn. Tuy là c.v. nhỏ nhưng mỗi góc cạnh của nó đều có chỗ ngắm không làm hỗ mặt chức vị “National Park” quốc hội Mỹ tặng cho.

Con đường 287 cũng có tên khác là “John D. Rockefeller Jr. Memorial Parkway” để tri ơn nhà tỉ phú Mạnh Thường Quân đã bỏ tiền ra chuột đất cho c.v. nầy. Rockerfeller Jr. là con của vua dầu hỏa Mỹ Quốc đầu Thế kỷ XX.  

Trung tâm công viên là hồ Jackson nằm giữa một cao nguyên tinh khiết đầy dã thú và hoa dại. Nằm phía Tây của hồ là dãy núi “Cathedral”  trong đó “Grand Teton” là cao nhất   đến  4,199 mét. Tên “Teton” do lái buôn da lông thú người Pháp đặt ra khi đến xứ nầy mấy trăm năm trước. “Grand” có nghĩa là “to lớn” còn  “Teton” là “nhủ” hay “vú”. Đây có lẽ là do sự tưởng tượng của những người đàn ông xa vợ chăng?

Cũng như Yellowstone trên các đồng cỏ ta thường thấy “Bison”, “Moose” và “Elk”, khuất trong bóng của rừng cây là sư tử núi, chó sói. Nơi đây có cả gấu đen và gấu “grizzly”.

Chạy đến hồ Jackson vào lúc gần đứng bóng, chúng tôi tìm chỗ ăn cơm trưa xong mua vé đi du ngoạn trên hồ.

Núi Grand Teton và sông Snake

“Jackson Lake” có mặt nước phẳng lặng như kính. Vào ngày đẹp trời hồ sẽ phản chiếu bóng núi đàng xa trông đẹp như tranh. Hồ là trọng điểm du lịch của vườn quốc gia nầy. Người đến viếng thường mướn xuồng “caiac” (kayak) để tự chèo. Còn không thì leo lên du thuyền sẽ có  “captain” (thuyền trưởng) và cô hướng dẫn viên đưa ra hồ lớn để ngoạn cảnh  sơn thủy. Ngày hôm đó chúng tôi chọn “option” sau với chuyến đi mất khoảng hai tiếng rưỡi đồng hồ. Captain du thuyền của chúng tôi là ông Bill người đã quá tuổi về hưu nhưng trông còn rất nhiều phong độ. Ông về đây nhận chức lái tàu với ý nguyện cống hiến cho vườn quốc gia nên không cần lương. Cô hướng dẫn viên của chúng tôi là Amy- một sinh viên đại học từ South Carolina đến công viên làm part-time mùa Hè. Cô gái rất là dễ thương và có nhiều kiến thức, ăn nói mạch lạc lễ phép nên được hành khách mến tặng cho nhiều “tip” lúc ra về.

Amy “chan”

Du thuyền rời bến tàu trong một cái vịnh nhỏ rồi ra giữa hồ. Từ đó tàu tăng tốc độ chạy nhanh tạo ra những đợt sống bạc đầu rượt theo sau. Xung quanh hồ có nhiều rừng “spruce” đại biểu cho cây vùng hàn đới. Trước những dãy cây là bãi cỏ xanh tươi nơi loài ăn cỏ tập trung. Họ thảnh thơi như đàn bò trong một nông trại. Cô Amy tiếp tục chỉ cho hành khách xem những gì hay lạ xuất hiện trong cuộc hành trình, từ con chim “bald eagle”, con gà lôi rừng đến con gấu con elk. Cô ta cũng giải thích về hiện tượng và hậu quả của “Global warming”(sự ấm lên của toàn cầu). Sự thành thạo về khoa học  của cô bé khiến cho tôi phải thán phục, có lẽ nó sẽ làm cho nhiều “tiến sĩ” nghe xong phải hổ thẹn…

Captain Bill đưa khách đến điểm xa nhất của hồ Jackson là chân núi Moran (3842 m). Trên cao các bãi tuyết chưa tan hết dù đã là đầu mùa hè. Núi Moran có dáng cân đối như núi Rainier của t.b. Washington. Nhìn bằng kính viễn vọng sẽ thấy dấu trượt của những người chơi “alpine ski” để lại. Bận về du thuyền chạy dọc theo bờ hồ để cho chúng tôi chụp hình núi Teton và những núi trên 3000 m lõm chõm như răng cưa. Nhìn cảnh núi nầy làm cho tôi nhớ lại dãy núi “Kita Arupusu” (北アルプス・North Alps)  và  Yatsugatake (八ヶ岳) vùng Nagano, NB. Đó là những trái núi cao tôi có dịp leo tới đỉnh trong đời. Thời thanh niên đó đã qua đi mất rồi…

Craig Thomass Discovery & Visitor Center

Theo cô Amy cho biết – từ 11 ngàn năm trước người Paleo-Indians đã bắt đầu đến cư ngụ nơi đây. Vì là mảnh đất phì nhiêu và có nhiều dã thú, họ sống bằng nghề săn bắn. Khi người Âu đến đất nầy họ mua da lông thú-“fur”  từ người “native” và trả bằng hàng hóa văn minh – Sự mậu dịch đó gọi là “fur trade”. Trên các bến sông thỉnh thoảng có xây trạm mậu dịch tức “trading post”. Mậu dịch “fur” và sản phẩm địa phươmg như chất gia-vị, trà, v.v.  là sự bắt đầu cho trào lưu đi chiếm đất để đô hộ của người Âu ở Bắc Mỹ, Tây Bá Lợi Á và các nơi khác từ 2-3 thế kỷ trước. Ở xứ ta Hội An cũng đã từng là nơi nước Hà Lan chọn làm nơi thiết lập “trading post” trên biển Hoa Nam – Đó là chi nhánh của “Dutch East India Company” .

Sau khi đi chơi trên hồ Jackson chúng tôi ghé hồ Jenny trước khi  chạy về Hotel để qua đêm. Hồ Jenny rất nhỏ, xung quanh có rừng cây đẹp. Người ta đến đây để câu cá, bơi lội và ngồi ngắm cảnh. Vì nước cạn và trong nên có rất nhiều gia đình có con nhỏ đến đây. Đi đâu cũng thấy bảng nhắc nhở coi chừng”gấu” và thú dữ…Nơi đây vào đêm ta sẽ nghe tiếng con “Loon” gọi nhau tìm bạn, con “Hồ Ly” than thở thân phận và con chim “Cú” gọi tên người…  

Sau nơi đây chúng tôi chạy tiếp và ghé “Craig Thomas Discovery & Visitor Center”. Trung tâm nầy được xây cất rất hiện đại với nhiều cửa kính để lấy ánh sáng thiên nhiên và sưởi ấm vào mùa lạnh. Bên trong được dùng như một viện bảo tàng. Nhờ đó ta có thể tìm hiểu địa lý và lịch sử của Grand Teton, về đời sống của người thổ dân vốn định cư  nơi đây từ nhiều nghìn năm trước và giới thực động vật của vùng. 

Buổi chiều chúng tôi về đến Hotel trong làng Moran để check-in trước khi lên đèn. Cũng giống nhà trọ ở Yellowstone N.P., Ratchet Resort Hotel là kết hợp của “log house” đại biểu cho kiến trúc ngoài thiên nhiên thường thấy ở vùng Alps, Âu châu. Hotel nầy có một cái Restaurant trang bị toàn là bàn ghế gỗ thật địa phương – “local real wood”, da, xương và sừng thú vật. Một góc của Restaurant là “saloon” nơi dân nhậu ghé chơi đến khuya. Tôi có cái thú hay sờ và ngữi mùi của gỗ lạ nên đến trọ nơi đây thật là một điều rất đắc ý của chuyến đi nầy. Khi nào trở lại Grand Teton với  má nó chắc phải tìm đến nơi đây…. Đêm hôm đó tôi ngủ rất ngon. 

Sáng ngày hôm sau chúng tôi thức sớm để trở về Salt Lake City cách Grand Teton 316 miles về phía Nam. Vì còn dư thì giờ trên đường chúng tôi ghé xem cảnh bờ sông “Snake River” chạy dọc theo đường 89 S. Ban sáng mặt sông còn yên lặng. Trong cánh rừng gần nước chim muôn xôn xao gọi nhau như để điểm danh số cánh còn lại trong gia đình sau một đêm dài. Loài ăn đêm như cú thì tìm bóng tối rừng sâu để ngủ.  

Sông “Snake River” bắt nguồn từ Yellowstone N.P., chảy qua bang Idaho trước khi đổ vào đại hà Columbia để tìm đường ra Thái Bình Dương. Sông “Snake River” dài 1735 km, chảy ngang vùng núi cao hẻo lánh hoang dại của US. Nó là mạch sông đoàn thám hiểm “Lewis và Clark” nghe người  “native” nói đến như trong chuyện huyền thoại và họ muốn khám phá ra nó. Đây là yếu tố quan trọng giúp hai ông làm tròn sứ mạng T.T. Thomas Jefferson giao phó: “Tìm đường nối liền hai đại dương để mở mang bờ cõi quốc gia”. 

Jackson Hole – WY 

Rời Grand Teton qua cửa Nam, chúng tôi chạy về Jackson – một thị trấn du lịch và là cửa vào 2 công viên quốc gia chúng tôi đi viếng mấy ngày vừa qua. Nơi đây có một phi trường nhỏ để cho du khách đến bằng phi cơ thay vì lái xe từ xa. Phố chợ Jackson rất đẹp, có nhiều tiệm ăn và hotel để phục vụ khách vào thăm công viên quốc gia. Mùa Đông du khách đến đây tấp nập. Họ lấy nơi đây làm địa bàn để đi xem cảnh và chơi các môn thể thao dưới  tuyết như “skii” và “snow mobile”. 

Chuyến đi nào rồi thì cũng có lúc kết thúc. Xứ Mỹ quá rộng lớn và có rất nhiều chỗ đẹp để cho ta xem và học hỏi. Tôi có một ước vọng giống như nhiếp ảnh gia thiên tài Lương Quang Tuấn (việt kiều Pháp sống ở Cali) là đi xem hết 48 National Parks của Hoa Kỳ trong khoảng thời gian còn lại của đời người. Từ đây trở đi thì giờ của người về hưu sẽ có nhiều hơn. Cũng như Matsuo Bashô khi đi chơi tôi thích có bạn đồng hành. Rất tiếc là nhà tôi không thích gian nan như trong những chuyến đi tôi chọn. Vì thế  mong rằng có bạn nào đó thích “outdoor” như tôi thì hãy giơ tay lên tham gia trong những chuyến đi tương lai. Tôi bảo đảm là sẽ rất lý thú.  Không biết anh Ph. and Th. còn có muốn đi với tôi nữa không? 

Hồ Jenny

Grand Canyon National Park

Công viên quốc gia Grand Canyon National Park rộng 1,218,375 acres (1,900 sq.miles) nằm trên cao nguyên Colorado vùng Tây Bắc tiểu bang Arizona là một kỳ quan nơi có cảnh trí địa hình thiên nhiên làm sững sờ du khách. Qua hàng triệu năm dòng sông Colorado chảy qua đã đào rộng một vùng thung lũng thành dãy vực sâu dài 277 miles có chiều sâu trung bình 4,000 feet (1 mile có 5,280 feet) và chiều rộng có nơi đến 15 miles. Năm 1919, thắng cảnh Ðại Vực Grand Canyon được Quốc Hội Hoa Kỳ bảo tồn thành công viên quốc gia và 60 năm sau được Liên Hiệp Quốc công nhận là Di Sản Thế Giới, kho tàng chung của nhân loại dành cho những thế hệ mai sau.

East Entrance Station:

Mua vé vào cổng. Giá vé cho một xe là $35 và có giá trị 7 ngày. Anh chàng nhân viên công viên (ranger) bán vé mặc đồng phục kaki vàng gần giống như hướng đạo đưa biên nhận, tài liệu chỉ dẫn và cẩn thận nhắc là vé có giá trị 7 ngày, ra vô bao nhiêu lần cũng được. Grand Canyon cũng có một đài phát thanh AM, du khách trên xe có thể vặn đài này để theo dõi những chỉ dẫn cần thiết, thời tiết, vấn đề lưu thông như đường nào bị đóng, bãi đậu xe nào đã đầy chỗ.

Desert View Watchtower:

Ðịa điểm đầu tiên ghé thăm là Desert View Watchtower.

Xây năm 1932. Watchtower, được xây trên độ cao 2,256 mét (7,400 ft). Đây là 1 trong nhiều địa điểm nhìn sâu tận đáy Grand Canyon và sông Colorado. Công trình xây dựng nổi tiếng này do Mary Colter.

Desert View Watchtower

Mather Point:

Ðịa điểm thứ 2 ghé thăm là Mather Point, nếu bãi đậu xe đã hết chỗ thì đậu xe dọc theo con đường đi vào bãi. Mather Point là nơi nhìn xuống thung lũng sâu nhất nên cảnh quan nơi đây rất hùng vĩ, từ nơi ngoạn cảnh xuống tới dòng sông Colorado ngoằn ngoèo chảy phía dưới vực chiều sâu gần 1 mile rưỡi. Những người sợ độ cao đứng nơi này nhìn xuống rất chóng mặt còn những ai thích chụp ảnh thì nơi đây quả là lý tưởng để ghi lại những hình ảnh đẹp.

Ðây là bờ phía Nam (South Rim) của Grand Canyon nhìn sang bờ phía Bắc (North Rim) cách nhau chỉ 10 miles nhưng nếu muốn sang bờ bên kia bằng xe hơi phải mất 4 tiếng đồng hồ trên con đường dài 210 miles, phải đi lại hướng thành phố Page đến Bitter Springs và vòng trở xuống. Bờ phía Bắc (North Rim) rất vắng vẻ ít người thăm viếng và con đường đến đây đóng cửa vào mùa Ðông vì băng tuyết. Nhà trọ và nơi cắm trại hoặc đậu xe Camper ở bờ phía Bắc từ giữa tháng 5 cho đến giữa tháng 10 vẫn có cho du khách sử dụng nhưng cần phải gọi dành chỗ trước. Những chi tiết này có thể hỏi tại Visitor Center ở Canyon View Information Plaza ngang bên kia đường gần Mather Point.

Yavapai Point:

Từ Mather Point lái xe đến Yavaipai Point.

Yavapai Observation Station đây là điểm ngắm được cảnh vực sâu mở ra rộng nhất.

Grand Canyon Village:

Từ Yavaipai Point đến làng Grand Canyon Village, nơi đây có khách sạn, tiệm buôn, nhà hàng ăn uống và ngân hàng.

Ngoài Grand Canyon National Park tại South Rim, còn có di tích lịch sử Grand Canyon Village. Những công trình kiến trúc cổ xưa nhất của vùng South Rim mà du khách cần đến viếng để thấy tiền nhân đã tốn bao công sức, tiền bạc khai phá và xây dựng: Buckley O’Neill Cabin, xây dựng từ những năm 1890 do William Owen, nay là nhà khách lưu niệm. Kolb Studio được xây dựng năm 1904 do anh em Ellsworth và Emery Kolb, dùng để chụp hình những ai đi đến Bright Angel Trail. Đến năm 1911, anh em Kolb thực hiện được bộ phim hành trình xuống vùng Green và Colorado River. Ông em Emery Kolb thực hiện được giấc mơ cho đến năm 1976, nơi này được chiếu phim thường xuyên cho du khách xem và ông qua đời khi đến tuổi 95. Hiện nay, ngôi nhà này được dùng làm nơi trưng bày những tác phẩm nghệ thuật. Một hotel cũ xưa nhất tại vùng này El Tovar Hotel được xây cất từ năm 1905. Đây là khách sạn sang trọng nhất ở West Rim, với 4 tầng lầu. Trong khách sạn có nơi bán những quà tặng lưu niệm, nhà hàng…

El Tovar Hotel

Hopi House cũng được xây cất năm 1905, Verkamp Visitor Center, cạnh Hopi House, cũng xây năm 1905. Grand Canyon Raiway Depot, xây năm 1909. Loukout Studio, xây năm 1914.

Bright Angel Lodge,

Công trình kiến trúc tầm cở, hiện nay thu hút nhiều du khách đến “tham quan” là Bright Angel Lodge, xây năm 1935 do kiến trúc sư Mary Colter vẽ đồ án, sau đồ án Desert View Watchtower. Công trình sư thực hiện đồ án là Fred Harvey. Trong tòa nhà này, hiện nay có 1 phòng làm bảo tàng viện vinh danh ông Fred Harvey, một người đã cống hiến trọn đời mình cho sự thăng hoa, rộng lớn của Grand Canyon. Trong phòng di tích lịch sử (history room) xây toàn bằng đá hồng nhạt lấy từ South Rim cùng thời, niên đại hình thành Grand Canyon.

Trở lại lấy xe và chạy vào làng. Làng không có cảnh gì đẹp nhưng là khu thương mại duy nhất ở Grand Canyon. Trước khi tới làng du khách sẽ ngang qua khu Market Plaza có một chợ tên là General Store, bưu điện, ngân hàng, nhà trọ Yavapai Lodge, khu cắm trại, nhà giặt quần áo và nhà tắm nước nóng, gần đó là bịnh xá. Bịnh xá hay trạm y tế ở trên đường Clinic Road là một “Walk-In Clinic” không cần phải lấy hẹn trước. Ở đây có 2 bác sĩ để chăm sóc cho du khách bị tai nạn khi leo trèo, bị rắn cắn hay ngã bịnh bất ngờ đồng thời cũng có một nha sĩ lo cho những ai đau răng bất thình lình. Bịnh xá này là chi nhánh của bịnh viện Flagstaff Medical Center. Giờ mở cửa hàng ngày từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều và đóng cửa 2 ngày cuối tuần, số điện thoại là (928) 638-2551. Trường hợp khẩn cấp du khách có thể gọi 911 để được chăm sóc.

Grand Canyon Railway Depot

Ngang qua thấy những ngôi nhà nhỏ vách gỗ thông cũ kỹ, mái gỗ rêu phong và phía trước hiên nhà là những chậu hoa Geranium, chắc là những nhà trọ cho thuê. Ði tới không đầy một mile sẽ đến Grand Canyon Village, nơi đây có trạm xăng, ga ra sửa xe và nhà ga xe lửa. Nhiều du khách nhất là người Mỹ lớn tuổi thích đi xe lửa vào Grand Canyon, họ lái xe tới thị trấn Williams, bỏ xe nơi đây và ngồi xe lửa chạy bằng diesel với đầu máy phun khói mà vào Grand Canyon. Họ muốn đi lại con đường ngày xưa 100 năm trước du khách thời ấy đã từng đi. Ðoạn đường ngày nay chỉ có 65 miles và mất 2 giờ 15 phút, trên xe có những nhạc công miền Viễn Tây đi tới đi lui giúp vui du khách. Du khách có thể tới sớm ở ga Williams để có thời giờ ăn sáng ở Max và Thelma’s Restaurant cũng như dạo xem những gift shops, nhà bảo tàng Railway’s Museum và Grand Canyon Railway Hotel. Xe lửa chia ra làm 5 hạng ghế, tiền nào của nấy, hạng nhất toa xe được mô phỏng như kiểu Harriman 1923 có tầng cao để ngắm cảnh bao quát xung quanh. Từ Williams du khách có thể đi về trong ngày theo lịch trình 10 giờ sáng khởi hành ở Williams Depot và đến Grand Canyon lúc 12 giờ 15. Buổi chiều từ Grand Canyon đi lúc 3 giờ 30 và về lại Williams lúc 5 giờ 45.Những ai thích đi xe lửa có thể gọi để biết chi tiết ở số 1-800-THE-TRAIN (1-800-843-8724) hay vào website www.thetrain.com

Phía Bắc của Grand Canyon Village dọc theo con đường Trail cạnh bờ vực là một dãy khách sạn cổ có những cái đã hơn 100 tuổi.

Hopi House:

Hopi House, kiến trúc đầu tiên ở Grand Canyon

Ngôi nhà xây bằng đá đỏ có tên là Hopi House nằm gần bãi đậu xe, đây là ngôi nhà đầu tiên được xây dựng tại Grand Canyon Village năm 1905 do bà Mary Jane Colter vẽ kiểu và thiết kế. Hopi là tên một bộ lạc da đỏ sống trong vùng Arizona khoảng 1,000 năm về trước và còn lưu truyền bộ tộc cho đến ngày nay.

Hopi House

Người Hopis theo chế độ mẫu hệ, người đàn bà là chủ nhân gia đình, chủ nhà và chủ ruộng đất còn đàn ông làm ngoài nương rẫy thường trồng bắp là món ăn chính của họ. Bà Mary Colter vẽ kiểu Hopi House mô phỏng theo kiểu nhà bằng đá của người Hopi: có 3 tầng, các nhà tầng trên nhỏ hơn tầng dưới và lên bằng một thang cây dựng bên ngoài bức tường nhà. Ngôi nhà Hopi House tại Grand Canyon do chính thợ xây người Hopis và dùng đá đỏ địa phương được đẽo bằng tay chất lên thành tường và kết dính với nhau bằng một chất vôi vữa, đà ngang trần nhà được làm bằng gỗ sần sùi đốn tại địa phương. Ngôi nhà này ngày trước được dùng làm nơi trao đổi hàng hóa của người da đỏ (trading post) vì họ không sử dụng tiền mà chỉ trao đổi với nhau nông phẩm để lấy vật dụng, thí dụ như trao bắp, đậu để lấy đồ gốm gia dụng hay nữ trang làm bằng đá. Ngày nay Hopi House vẫn là nơi trao đổi hàng hóa của người da đỏ nhưng không còn lấy thực phẩm nữa mà lấy… tiền cho gọn nhẹ. Hàng hóa của người da đỏ được du khách ưa chuộng để làm quà kỷ niệm là đồ trang sức, đồ gốm nhiều màu, vải thổ cẩm dệt thô sơ bằng tay để treo trang trí hay làm thảm trải nhà. Trong Hopi House có máy lạnh và nhạc trống người da đỏ dập dồn được thu vào CD và phát ra những loa giấu trên trần nhà. Trên lầu vài người phụ nữ da đỏ (?) biểu diễn cách dệt vải thổ cẩm và xay bắp thành bột trong những cối xay bằng đá để làm bánh tortilla. Nơi quày có bán những món ăn ngọt trong đó có kẹo dẻo mùi cây xương rồng.

Năm 1987 Hopi House được phong tặng là danh thắng lịch sử quốc gia (National Historic Landmark) và trong quá khứ nhà bác học lừng danh người Ðức Albert Einstein (1879-1955) cùng vợ đã từng viếng nơi đây năm 1931 và chụp hình lưu niệm với những phụ nữ bộ lạc Hopi trong chuyến viếng Hoa Kỳ lần thứ hai theo lời mời của viện California Institute of Technology.

Phía trước Hopi House là sân cỏ có nhiều cây tùng bách và cạnh đó là bờ vực với tường chắn bằng đá xây dọc theo con đường tản bộ, vài du khách thong thả dạo chơi, vài người khác nhắm máy ảnh xuống vực sâu mong chụp được những chú nai mule deer đang thẩn thơ gặm những chồi lá non còn ướt đẫm giọt sương mai.

Trong mùa Hè tìm chỗ đậu xe hơi khó ở các bãi đậu nhất là từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều, tuy nhiên xe có thể đậu bên lề các con đường nếu những nơi này không có để bảng cấm đậu. Chính quyền công viên khuyên du khách nên đậu xe một chỗ, di chuyển trong công viên nên sử dụng xe buýt miễn phí để tránh giao thông ứ nghẽn và gây ô nhiễm môi trường. Xe buýt miễn phí trong mùa Hè (tháng 5 cho tới tháng 9) chạy mỗi ngày từ 4 giờ 30 sáng cho đến một tiếng đồng hồ sau khi mặt trời lặn và cứ mỗi 15 phút là có một chuyến (7 giờ 30 cho đến lúc mặt trời lặn), sáng sớm hay chiều tối thì cứ nửa giờ.

Rời Grand Canyon đi về Flagstaff.

Tusayan Village:

Làng Tusayan bên ngoài cổng Nam Grand Canyon

Qua khỏi Cổng Nam (South Entrance Station) là làng Tusayan quang cảnh rất nhộn nhịp với khách sạn, nhà hàng và tiệm thức ăn nhanh duy nhất ở đây là McDonald’s. Nhà hàng có Wendy’s, Yippee-Ei-O Steakhouse, Jennifer’s Bakery… Khách sạn và nhà trọ có 4, 5 cái, bề thế nhất là The Grand Hotel. Năm 1998 làng này rất thưa vắng chỉ một vài nhà trọ nhưng hôm nay nơi này rất đông vui, nhộn nhịp du khách và nơi bãi đất trống lại có dựng lều vải bán chợ trời các món hàng thủ công, mỹ thuật, quà kỷ niệm nữa gọi là “Art Festival.”

Tại làng Tusayan này nổi tiếng nhất là rạp hát chiếu bóng IMAX với màn ảnh rộng chiếu phim về thắng cảnh Grand Canyon là “Grand Canyon: The Hidden Secrets.” Phim sẽ đưa khán giả theo cánh chim ó bay lượn từ trên cao nhìn xuống vực sâu với dòng sông Colorado chảy xiết rồi qua những dấu vết để lại ngược dòng thời gian 10,000 năm về trước chứng tỏ đã có người ở đây cho đến cuộc thám hiểm chinh phục sông Colorado của Thiếu Tá John Wesley Powell năm 1869. Rạp hát này nằm trong khu National Geographic Visitor Center cùng một chủ với nguyệt san của hội nghiên cứu địa dư National Geographic đã xuất bản đều đặn hàng tháng gần 100 năm nay.

Tusayan là tên một làng của bộ lạc da đỏ sắc tộc Pueblo sống trong vùng Grand Canyon 800 năm về trước. Tusayan ngày trước không phải ở đây mà ở gần Desert View cách Grand Canyon Village 20 miles về hướng Ðông trên đường 64. Tại đó còn lưu dấu tích người da đỏ gọi là Tusayan Ruin và có một nhà bảo tàng mở cửa từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều không có lệ phí.

Ra khoải làng Tusayan phi trường Grand Canyon ở bên phải, những nhà giàu có máy bay riêng họ sẽ đáp nơi đây. Ở trong phi trường còn có bán vé những chuyến bay du ngoạn để ngắm cảnh Grand Canyon từ trên cao bằng máy bay 2 động cơ 19 chỗ ngồi với 2 phi công và bay mỗi tiếng đồng hồ đó là hãng Grand Canyon Airlines. Máy bay một động cơ 7 chỗ ngồi là hãng Air Grand Canyon nên gọi giữ chỗ trước nhưng đến bất ngờ cũng vẫn… welcome! Còn muốn tham quan bằng trực thăng thì có tới 3 hãng là Grand Canyon Helicopters, Papillon Helicopters và Maverick Helicopters.

Xe đi qua ngã ba nơi con đường 64 từ Williams lên gặp nhau và địa danh nơi đây có tên là Valle, có nhà trọ, khách sạn, trạm xăng, tiệm tạp hóa và một phi trường nhỏ bên ngoài có trưng bày một chiếc máy bay phế thải.

Từ Grand Canyon trở về Flagstaff bằng con đường 180 dài khoảng 100 miles đi mất gần 2 tiếng đồng hồ (từ Tusayan Village 74 miles) . Con đường vắng vẻ, mỗi chiều một lane xe chạy với vận tốc giới hạn là 55 miles một giờ. Hai bên là rừng thông không nhà cửa rất an toàn có thể chạy nhanh hơn nhưng mọi người vẫn giữ tốc độ 55 miles để thong dong ngắm cảnh hai bên đường.

Qua những những cánh đồng xanh cỏ dại có những xóm nhà cất xa con đường vào sâu bên trong. Hầu hết những ngôi nhà đều rất mới và có những cái còn đang xây, dường như là nhà nghỉ mát của những người giàu có từ Phoenix lên hay từ Las Vegas qua. Không thấy chợ búa ngay cả một trạm xăng cũng không có, mua sắm có lẽ họ trở về Flagstaff. Nơi đây có cao độ trên 5,000 feet nên không khí rất mát ngay cả mùa Hè và bầu trời trong xanh không một chút ô nhiễm

Đến gần Flagstaff là rừng thông xanh mát, phía Nam trước mặt là ngọn núi San Francisco đỉnh cao nhất là ngọn Humphreys tuyết phủ.

Những vấn đề về an toàn du khách cần lưu ý khi vào ngoạn cảnh là:

-Cẩn thận coi chừng té ngã xuống vực sâu nhất là khi mải mê chụp hình ở điểm ngắm cảnh Mather Point, nơi đây những bờ đá cạnh vực sâu có thể trơn trượt. Chỉ nên đứng phía sau hàng rào và để ý đến tình trạng mặt đất nơi mình đứng.

-Sấm sét rất thường xảy ra nơi bờ vực phía Nam Grand Canyon vì vị trí này rất cao so với thế đất dưới vực sâu nên rất dễ dẫn điện truyền xuống từ lằn chớp khi mưa giông. Khi trời mưa hay mây đen vần vũ trên bầu trời hãy rời ngay khu vực trống trải cạnh bờ vực vào trong nhà hay trong xe và đóng cửa lại. Tránh che dù hay đứng dưới gốc cây tại bờ vực khi trời sấm chớp.

Đi thăm Miami

Ký sự của Hướng Dưong txđ

Từ Tampa chúng tôi đã thuê xe lái đi Miami chơi vì nghe nói thành phố này lớn
đẹp và nhất là tại đó lại có nhiều vườn cây ăn trái giống như ở Việt Nam, trồng
đủ loại đu đủ mít ổi dừa nhãn vải na (mãng cầu) thanh long… Tôi mơ ước đi
vào thăm những vườn trái cây để nhớ lại những thời xa xưa đi hái trái cây ở Lái
Thiêu, những ngày tôi còn tuổi thanh niên, còn ở trung học, bạn bè rủ nhau đi xe đạp tới thăm những vườn trái cây đó để được ăn măng cụt thả dàn không mất tiền… Những ngày đó sao quá đẹp, đi chơi với bạn vừa vui thú vừa được ăn tha hồ, vì ở nhà có đâu mà ăn nhiều? Và từ lâu tôi vẫn thèm trồng cây ăn trái để được thấy những trái đu đủ, trái xoài, trái nhãn, trái na lủng lẳng trên cành cây, để được đứng ngắm từ những lúc cây ra hoa cho tới khi nhú ra những trái nhỏ xíu, rồi mong đợi từng ngày khi những trái cây đó lớn, rồi chín để hái xuống, mang vào nhà để lên bàn thờ cúng tổ tiên, cúng Phật rồi sau đó ăn. Đã có lần tôi thèm mua một căn nhà ở Florida để trồng cây ăn trái, nhưng rồi ý nghĩ đó phải xóa đi khỏi tâm trí vì đại gia đình ở đây làm sao mình bỏ đi xa được?

Như vậy chúng tôi cứ tà tà dạy trễ 9 giờ sáng uống cà phê, ngồi nói chuyện chơi với gia đình, rồi ăn trưa. Tới 12 giờ mới hoảng hồn ra xe lên đường. Chúng tôi cứ thế chạy gần 250 miles theo quốc lộ I 75 rồi bắt sang I 595 E về hướng Fort Lauderdale, xong bắt sang I 95 South để đến Miami. Chúng tôi đi ngang qua một vùng thấy ghi bảng Everglades là nơi chúng tôi nghe danh và quyết định sẽ đến thăm viếng vào một ngày nào sau đó.


Khoảng bốn giờ rưỡi lái xe sau đó, với hai lần nghỉ 15 phút dọc đường, chúng tôi đã vào tới thành phố Miami. Những con đường của Miami rất rộng với những toà nhà trọc trời năm bẩy chục từng rất đẹp mắt trông như thế chúng tôi đang đi vào New York. Những toà nhà hai bên phố vùng trung tâm to lớn và tân tiến giống như ở Beverly Hills hay Honolulu. Cả vùng Miami to lớn, tức là kể tất cả những tỉnh lân cận, có số dân cư lên tới gần 5 triệu người, làm cho vùng đô thị Miami đứng hàng thứ tư chỉ sau có New York, Los Angeles, và Chicago (tính cho đến năm 2007). Kể từ năm 2001, Miami đã bắt đầu một kế hoạch xây cất những cao ốc với 50 toà nhà chọc trời cao hơn 122m tức 400 feet. Toà nhà cao nhất lên tới 275 m tức 903 feet là toà nhà tên Brickell Financial Centre II. Chân trời Miami (Miami skyline) được xếp hàng ba trong số những chân trời đáng nể nhất của hoa kỳ, chỉ sau có Nữu Ước và Chicago. Ngoài ra Miami còn được coi là trung tâm tài chánh ngoại quốc quan trọng hàng đầu của Hoa Kỳ. Miami được xếp hạng nhất trong số những thành phố giầu có nhất nước Mỹ. Hải cảng Miami nổi tiếng là có khả năng tiếp nhận khối lượng những con tàu du lịch (cruise ships) cao nhất thế giới và nơi đây là trụ sở của nhiều hãng tàu chở du khách quanh thế giới.

Bayside Marketplace

Chúng tôi check vào một hotel ngay ở downtown, chỉ cần bước qua đường là sang tới khu du lịch bên bờ Vịnh Miami có tên là Bayside Marketplace. Sau khi nghỉ nữa tiếng đồng hồ, chúng tôi liền lợi dụng trời còn sáng để đi thăm khu này. Đây là một khu buôn bán ăn uống chủ yếu dành cho du khách khá rộng lớn có một parking ba bốn từng rất lớn cho du khách đậu xe. Bên cạnh có lẽ là một hí trường vì chúng tôi thấy quảng cáo có show ca nhạc nhẩy múa mỗi cuối tuần. Khu này đại khái cũng giống khu Fisherman Wharf của San Francisco, với những tiệm ăn, tiệm rượu, tiệm nước, những cửa tiệm bán đồ cho du khách, những chỗ vui chơi giải trí…Tuy nhiên ở đây cũng có nhiều cái khác San Francisco Fisherman Wharf, chẳng hạn như các tiệm ăn ở San Francisco phần lớn là tiệm nấu đồ ăn Ý còn ở Miami Wharf thì là đồ ăn Cuba và Cajun, nhạc ở San Francisco là những nhóm nhỏ gánh dạo hát cho những nhóm du khách tum năm tụm ba đứng lại nghe một lúc, cho tiền thưởng, rồi đi còn ở Miami Bayside Market, buổi chiều có ban nhạc khá đông người, đánh trên sân khấu cho hàng trăm người ngồi thưởng thức. Như bất cứ tại đâu, có những nghệ sĩ trình diễn ngoài đường phố như làm trò cười, trò ảo thuật, múa may, để những người xem được mua vui.


Bayside Marketplace có trên một trăm cửa tiệm bán đủ thứ kể cả nồi niêu soong chảo, máy hút bụi, lò sưởi, quạt máy… cho tới nước hoa, quần áo, đồ chơi. Ôi một rừng hàng hóa muôn màu, các bà các cô tha hồ mà mua váy cuba, quần áo tắm, khăn bông, nước hoa nhập cảng từ những nước xa lạ (exotic aromas), nữ trang made in china…. Dân Mỹ gọi nơi này là khu rừng đi săn trong thành thị (urban safari). Buổi chiều tối mát mẻ không gì bằng đi dạo chơi nơi đây cùng với đám đông hay ngồi uống ly cà phê hay ly rượu hay ăn cốc kem bên bờ biền, nhìn những chiếc tàu muôn màu to nhỏ đi hay đậu trong bến cảng.

Miami Bay

Ban ngày và cả chiều tối du khách có thể mua vé đi thăm Vịnh Miami bằng tàu máy, tầu buồm, và cả tàu do người Cuba tổ chức gọi là Fiesta boat có nhạc, trên đó du khách có thể ôm nhau nhảy đầm.

Có một loại tàu nữa dành cho những ai thích hú hồn, rợn tóc gáy, cười vui la hét là loại tàu gia tốc (speed boat) có tên là Thriller. Chúng tôi muốn đi thử nhưng khi đến vào buổi chiều 6:30 thì không còn chuyến nào nữa nên đành đi chiếc tầu Cuban có nhạc nhẩy múa. Tàu đi vòng vòng cả tiếng đồng hồ, người thanh niên Mỹ gốc Cuba cầm chiếc micro giới thiệu các toà nhà và dinh thự nguy nga ở hai bên bờ, phần lớn của những tài tử xi nê, ca sĩ, hay những tay tư bản khác trên khắp thế giời.

Có tiền mua tiên cũng được, thế giới Hollywood đua nhau mua nhà trên những hòn đảo trong Vịnh Miami. Buổi tối, nhìn cảnh thành phố Miami với những ngọn đèn sáng trưng trông cũng đẹp mắt, nhưng có lẽ đi ban ngày thì thú vị hơn vì có thể chụp hình những cảnh đẹp, những toà nhà cao ốc, những dinh thự sang trọng trong vùng này. Chính tôi thì thích đi bằng chiếc tàu buồm vì có lẽ nó thơ mộng hơn, tôi nghĩ con tàu sẽ lướt sóng từ từ theo ngọn gió thổi, tâm hồn du khách sẽ có chút mơ mộng trong đó, làm cho cảnh thiên nhiên nên thơ hơn, nhưng cũng có thể tôi lầm. Tuy nhiên, nhóm anh em đi cùng không ai đồng ý với tôi nên cuối cùng cái “giấc mơ” nhỏ bé đó cũng không thành.

South Beach

South Beach

Miami có vùng bải biển South Beach – thuộc thành phố bên cạnh tên là Miami Beach – nổi tiếng là đẹp, nơi những tài tử giai nhân hay lui tới. Phim Miami Vice với tài tử chánh Don Johnson được quay tại nơi đây. Nhiều cảnh trong những phim trong đó có những tài tử Sharon Stone, Sylvester Stallone, Wesley Snipes, Marisa Tomei, Angelica Houston, Arnold Schwarzenegger, James Woods, Jamie Lee Curtis, Whitney Houston, Kevin Costner and Sean Connery cũng được quay nơi này. Tại nơi đây nhiều cuộc trình diễn thời trang được tổ chức và được quay thành phim và nhiều ảnh quảng cáo cũng được thực hiện với bối cảnh là South Beach. Theo lời kể lại thì cứ cuối tuần du khách đi ăn uống hay đi bơi tại nơi đây đều có thể gặp các tài tử nổi tiếng của Hollywood tại South Beach, nhưng vì chúng tôi đi vào một buổi chiều ngày thường nên không có cái may mắn được bắt tay hay say hello với ai hết.


Bãi biển South Beach là bãi biễn nhân tạo giống như bãi biển Cancun của Mexico, tức là người ta đem cát trắng mịn từ nơi khác tới, mặc dù nó đổ dài hàng chục dặm dọc theo bờ vịnh. Khác với những bãi biển ở miền Tây hay miền Đông, nước biển ở Miami, hay nói chung ở Florida, ấm áp nên tắm sướng gần như quanh năm. Miami Beach hàng năm, kể cả vào mùa Đông, có hàng triệu du khách đổ tới, du khách quốc tế phần lớn từ Âu Châu, Nam Mỹ, Gia nã Đại, Israel, và cả từ vùng Carribean, còn du khách quốc nội thì tới từ khắp nước Mỹ. Vì có nhiều du khách tới từ Âu Châu và Ba Tây nên tại South Beach phụ nữ được cho phép tắm và phơi nắng ở trần (topless) mặc dù nơi đây là một bãi biển công cộng.


Vùng South Beach còn mang tên Sobe, hay là Art Deco District, chạy dài theo con đường Ocean Drive, một con đường dài hơn mười miles dọc theo bờ biển, nơi đây có hàng trăm nhà hàng khiêu vũ, tiệm ăn, tiệm rượu, cửa hàng bán trang phục phụ nữ và art deco khách sạn. Trên con lộ này thường xuyên có những chiếc xe hơi cổ hay xe hạng sang, hoặc xe bình bịch Harley Davidson chạy tới chạy lui. Đa số những người dân cư ở đây là dân Cuba hay Nam Mỹ nói tiếng Y Pha Nho, một số nhỏ từ Brazil tới thì nói tiếng Bồ Đào Nha. Chúng tôi đã đứng lại xem một tay chuyên môn quấn Cuban cigar trổ tài. Cuban cigars còn có tên là xì gà Havana nổi tiếng thế giới là ngon. Ngày xửa ngày xưa khi tôi còn hút thuốc, tôi cũng lâu lâu hứng chí hút xì gà, mặc dù tôi thường hút píp, hoặc xì gà loại nhỏ (cigarillo) của Mỹ và Cuba.

Đêm đến, cả con đường Ocean Drive dài này nhộn nhịp người đi chơi dưới ánh đèn muôn màu của những nhà hàng, những dancing clubs. Du khách thả hồn vào tiếng nhạc Cuba dậm dựt tiếng trống cùng tiếng kèn cùng tiếng nhạc thánh thót nhanh như nước chảy. Nhìn vào những quán ăn sang trọng xập xình tiếng nhạc, du khách thấy những cô gái xinh đẹp ăn mặc hở hang, có khi chỉ còn hai mảnh nhỏ che chỗ phải che trên thân, quay cuồng uốn éo nhẩy múa. Người đứng coi, tay cầm ly rượu, đã ngà ngà say, cũng say sưa nhẩy theo cũng dựt dựt, cũng múa may quay cuồng. Những tiếng nói chuyện ồn ào, những tiếng cười rộn rã, những làn pháo tay khen thưởng người vũ công, rõ ràng đó là cảnh hạnh phúc trần gian. Nhìn lên trời, tuốt trên sân thượng, cũng có những vũ nữ biểu diện cho thực khách ngồi ăn uống trên đó. Những quán ăn có những bàn bày trên vỉa hè ra sát tới con đường, nơi hàng dài xe hơi bóng nhẫy đậu, nhiều xe thuộc loại xe cổ của dân chơi, đi để phô diễn, để khoe khoang. Thực khách vừa ăn uống cười đùa vừa nghe nhạc sống có, nhạc chết có, thật là no nê hả hê, thật là vui nhộn.

Mango’s Tropical Cafe on Ocean Drive
The Clevelander on Ocean Drive

Ở South Beach, ban ngày du khách có thể đi chơi khu Lincoln Boulevard, là một khu nổi tiếng, ai đến Miami cũng thích đến. Khu này đại khái giống như con đường Fifth Avenue ở Nữu Ước, đoạn đường Rodeo Drive ở Los Angeles hay Las Ramblas ở Barcelona, Las Ramblas cũng là một khu gần bờ biền bên Tây Ban Nha nơi đây du khách đi dạo chơi, ăn uống – nhưng phải coi chừng bọn móc túi lộng hành nơi đây!


Khu Lincoln Road do Carl Fisher, tay tỷ phú đã xây dựng lên Miami và South Beach, làm ra từ những năm 60. Nhưng từ khi đó đến nay, nó vẫn thế, không phát triển thêm nên bi giờ thua kém các khu ăn chơi kia, tuy vẫn còn đẹp và đi chơi vẫn lý thú. Có lẽ bởi nó gần biển, có nắng và gió biển lồng lộng. Người giầu có đến đây chơi đi vào những cửa tiệm sang trọng cho các bà sắm sửa, ngắm nghía những bộ đồ đúng thời trang, những đôi giầy, chiếc ví hay nón hay khăn quàng cổ hoặc chọn nữ trang. Đụng vào các thứ đó ở nơi đây là cháy túi, nhưng nếu túi đầy ắp tiền thì đâu có nghĩa lý gì, miễn là được đẹp, được người ta nhìn, trầm trồ khen sang, khen chịu chơi, khen “à la mode”, phải không các bà?

Lincoln Road in Miami Beach

Lincoln Road là một khu để đi tản bộ, kéo dài từ Lenox Avenue cho tới Washington Avenue, cũng phải khoảng hai miles. Ngoài những cửa tiệm bán đồ phụ nữ và đồ trang sức, nước hoa, còn lại là những quán ăn, quán nước, quán cà phê. Mới xây là những toà nhà trong đó có những malls nhỏ, nhưng chúng tôi không vào xem vì nghĩ nó cũng giống những nới khác và cũng vì đi nhiều đã … mỏi chân. Dọc theo con đường dài, hai bên là những quán cơm, quán nước có bàn bầy đầy ra ngoài lối đi, dưới những tấm vảo bạt che nắng, tất cả đều màu trắng bên những tàn cây xanh ngắt đủ loại, dừa, đa, phượng vĩ có hoa nở đỏ chót – chỉ thấy có một cây – sồi hay giống gì khác tôi không biết rõ. Dưới chân là những vườn hoa nho nhỏ, những bồn nước cũng bé tí xíu, có nước chảy ra từ những vòi nước chậm rì, hết còn sức phun lên cao. Tuy nhiên khi mỏi chân, mỏi nhìn cảnh đám đông ăn bận đẹp, đủ kiều, phần lớn là hở hang vì nơi đây gần biển – nhiều cô gái rất sexy – thì dừng lại dưới những lùm cây bên hồ nước con con, cũng thấy thoải mái lắm!

Ngoài chuyện người đi xem người, xem cảnh, xem các cửa tiệm (window shopping?), hay đứng chờ các bà vợ vào bên trong các cửa tiệm la cà, chờ mà thấp thỏm sợ các bà “xài sang một bữa”, còn cái thú uống cà phê (Starbucks) ăn kem (Ghirardelli giống như ở San Francisco). Hơn nữa ai thích ăn ngon thì có cái thú ăn đồ Ý chính hiệu con nai ở tiệm Quattro là nơi nấu đồ ăn của vùng miền Piedmont ở phía Bắc nước Ý Đại Lợi, tiệm này khoe mang những đồ để nấu bếp như muối, bột, cá, và các loại phó mát từ Ý sang, không biết có thiệt hay không.


Lúc đi chơi dọc theo Lincoln Road chúng tôi thích thú khi thấy một tiệm ăn trưng bầy trên mỗi bàn một lọ hoa xanh dương nhỏ có cắm một bông hướng dương, và bèn đưa máy hình lên chụp lia lịa dăm tấm. Đi ngang qua một nhà hàng dường như của người Nga, một cô chiêu đãi viên xinh đẹp sexy đưa ra một cái đĩa lớn trên có một con tôm hùm khổng lồ và mời vào ăn với cái giá rẻ rè là hai chục đô la! Ở San Francisco mà ăn con tôm hùm bự cỡ đó chắc giá phải gấp đôi hay gấp ba! Vào những ngày chủ nhật khu Lincoln Road còn có chợ trời bán hoa quả (farmer’s market) mở cho tới 5 giờ chiều bán nhiều loại bong xem thấy rất đẹp mắt và mỗi chủ nhật thứ ba trong tháng còn có chợ bán đồ cổ cho những ai thích mua về bầy chơi. Rất tiếc, chúng tôi không đi vào ngày chủ nhật nên không được xem hai cái thú chơi này. Ngoài ra những ai thích nghe trình tấu nhạc thì có thể đến rạp Lincoln Theater nơi đây có giàn New World Symphony do nhạc trưởng Michael Tilson Thomas dựng nên vào năm 1987 khi ông này chưa chỉ huy Symphony Orchestra of San Francisco.

Metromover downtown

Đi chơi xem downtown Miami bằng tầu điện chạy trên cao có tên là Metrorail cũng là một cái thú mà ai đến Miami cũng nên đi thử cho biết. Chúng tôi đã dành cả một buổi tối đi trên các chuyến xe điện nhò xíu, chỉ có hai toa chạy lòng vòng khu downtown để chụp hình Miami vào ban đêm. Chiêù tối không còn nóng bức như ban ngày đi ra ngoài phố thăm thú cũng vui, tuy phải cẩn thận vì sợ bị cướp giật hay móc túi. Chắc vào mùa hè đông du khách thì bọn này mới lộng hành. Lúc mới check in hotel, vào tới phòng của mình, chúng tôi đã đọc thấy những lời cảnh báo như, “không mở cửa phòng nếu không xem trước xem ai đứng gõ cửa”, “Đi ra phố, đừng mang theo nhiều tiền mặt, đừng đeo đồ trang sức”, “Đừng tỏ dấu hiệu gì cho người ngoài biết mình có tiền mặt nhiều”, vân vân… làm khi đi chơi tối, chúng tôi cũng hơi ngan ngán, nhưng đề phòng thế thôi chứ chẳng có chuyện gì không may xẩy ra hết.

Everglades Safari


Đến Miami, chắc hẳn ai cũng nghe nói đến Everglades Safari. Vì thế nên chúng tôi cũng tò mò đi tới nơi đây để đi thử con tầu hơi (airboat), là thứ tàu có cánh quạt lớn thổi về phía sau để cho con tàu có thề lướt trên mặt nước hay trên những đồng cỏ dại, loại tàu hơi này đã từng được dùng trong chiến tranh Việt nam để chạy lướt nhanh trên những vùng đầm lầy của Đồng Tháp Mười. Chỉ có khác là ở Việt Nam có lính Mỹ trang bị đại liên đi trên đó để bắn phá những vùng tình nghi có Việt Cộng ẩn núp hay tải chuyền vũ khí từ ngoài biển vào (?) tôi không biết lực lượng hải thuyền của Việt Nam Cộng Hòa có loại tàu này hay không.

Du khách đến đây vào mùa hè có thể lấy tour đi một ngày để thăm thú cả vùng Everglades mênh mông và nghiên cứu về những vấn đề môi sinh dưới sự hướng dẫn của những chuyên viên, như làm sao duy trì những hệ thống môi sinh thiên nhiên (natural eco-systems) làm sao giữ được tình trạng thiên nhiên, và làm thế nào để giúp đỡ được những người dân địa phương sinh sống trong vùng này. Du khách sẽ được đi thăm những vùng đồng cỏ răng cưa (sawgrass prairie), vùng cữa biển trồng cây đước (mangrove estuary) trông in hệt như ở Việt Nam mình, vùng xình lầy có trồng cây bách (cypress swamps) và những vùng xưa kia là đồng cỏ nhưng nay được trồng thông (pine savanna).

Vì không phải là mùa du lịch và hôm đó trời lại đổ một trận mưa rào nên chúng tôi tưởng không đi được chuyến tàu hơi như mong muốn. Chúng tôi mua vé để đi tour 1 tiếng 30 phút. Trước khi đi thăm vùng “Đồng Tháp Mười Mỹ” để xem cá sấu thì chúng tôi được mời vào xem show cá sấu. Một nhân viên đưa ba con cá sấu to lớn răng nanh trợn ra, miệng há hốc như muốn bất chợt đớp cánh tay hay cặp giò của anh ta khi anh ta vô ý, nhưng không, đó chỉ là một cuộc trinh diễn, và những con cá sấu đó trông thì phát khiếp nhưng lại hiền khô, bảo sao nghe vậy vì chúng đã được thuần hóa rồi. Sau màn trinh diễn có một màn làm thêm tiến du khách: Anh chàng nhân viên đem ra một con cá sấu mới đẻ dài chừng bẩy tám chục phân tây và ai muốn ôm nó chụp hình kỷ niệm thì phải trả thêm tiền.

Aligator Show

Sau đó chúng tôi leo lên con tàu hơi, chiếc cánh quạt quay tít và tiếng máy nỗ vang inh ỏi, mỗi người được phát cho một miếng giấy toa let để nhét vào lỗ tại cho bớt điếc tai. Rồi chiếc tàu lướt đi khá nhanh trên mặt nước xanh ngắt dưới một bầu trời chói sáng ánh nắng mặt trời. Trời nắng chang chang, ngồi trong con tàu vỏ sắt chở khoảng bốn năm chục người du khách, chúng tôi được đưa đi thăm một vùng đồng cỏ có những con lạch trồng đầy một thứ bèo to lớn, hai bên những con lạch mà con tầu đi vào là những cây, bụi rậm mọc từ dưới nước mọc lên. Đôi khi cũng có những vùng đất hoang cây cối um tùm, nhưng không thấy có nhà cửa, không biết xa bên trong thì có ngưởi da đỏ sinh sống ở đó hay không. Cứ thế con tàu chạy khi thì trên mặt nước, khi thì trên mặt lớp cỏ răng cưa, chạy nhẹ nhàng không hề bị vướng víu hay ngăn chặn lại gì cả. Chúng tôi liên tưởng tới những con tàu loại này xưa kia đã chạy trên mặt đồng ruộng lúa hay cỏ dại nơi vùng đồng tháp, đại liên nổ dòn tan, khi đó chiến tranh còn ác liệt.


Cứ theo như lời quảng cáo thì vùng Everglades này có nhiều cá sấu, chim cò và người đi thăm sẽ được vui thú như thể đi vào vùng đồng hoang để săn (safari) nhưng kỳ thực khi chúng tôi đi thì chẳng thấy chim cò mà cá sấu cũng chẳng có con nào hết.


Chúng tôi nghĩ trong đầu đây chỉ là trò dụ khị du khách, một sự bịp bợm trắng trợn. Người lái tàu cho chúng tôi ăn bánh vẽ khi lâu lâu lại cho con tàu chạy chậm lại, rồi ngưng tại một chỗ để tìm xem có con cá sấu nào hiện ra hay không. Lúc còn ở bến trước khi cho tầu chạy người lái tàu này đã dặn chúng tôi nếu thấy cá sấu thì phải dậm chân ầm ầm và còn bắt chúng tôi làm thử, lần đầu dậm chân chưa đủ mạnh, hắn bắt dậm chân thêm một lần nữa, làm chúng tôi tưởng sẽ thấy hằng hà những con cá sấu, to lớn như những con bọn này đã đem ra trình diễn, bơi lội trong đám xình lầy. Nhưng đậu cả đến năm mười phút cũng chẳng thấy anh chàng hay cô nàng cá sấu nào hiện ra hết. Tên lái tàu còn ba xạo tuyên bố rằng để hắn cố gắng tìm cho ra một con cá sấu cho chúng tôi vui, hắn lại lái tàu đi vòng vòng, nhưng cá sấu đâu chẳng thấy, chỉ thấy đồng cỏ, nước xanh ngắt vì phản chiếu bầu trời, và ở những nơi dừng lại đủ loại bèo và bông súng. Đến khi hết giờ thì hắn quay mũi tàu trực chỉ bến nơi khởi hành. Khi về gần đến nơi hắn chỉ một con cá sấu bé tí, dài chưa tới một thước nằm trên một bờ đất. Tôi nói đùa, “Chắc con cá sấu này bị buộc chân nơi đây để loè du khách! Cả cái vùng mênh mông Everglades này chắc chẳng còn con nào hết!” Tuy nhiên đi chơi trên con tàu hơi ra vùng “Đồng Tháp Mười Mỹ” này cũng vui vui, vì có thiên nhiên, có ánh nắng mặt trời có gió thổi, có mây, có nước, có cảnh sông lạch giống như đang ở vùng nhiệt đới làm mình chạnh lòng nhớ đến quê hương.

Fruit farms

Ngoài ra đi Miami còn cái thú khác mà có lẽ chỉ du khách Việt Nam, Kămpuchia, Lào, hay Thái Lan mới thích là mò đi tìm những vườn trái cây nhiệt đới trồng những thứ hoa quả xứ mình như nhản, vải, xoài, ổi, na (mãng cầu), mít, thanh long, dừa xiêm, những loại cây này vốn xưa kia đâu có ở Miami? Từ khi còn ở nhà chúng tôi đã lên Internet tìm kiếm những khu vườn cây này và tình cờ chúng tôi đọc được bài viết của một phóng viên đài VOA viết về những vườn cây ăn trái của người Việt ở Miami. Chúng tôi có ghi lại địa chỉ nhưng lúc đi luống cuống lại quên mang theo, chỉ mang theo những tài liệu nói về vườn cây nhiệt đới của người Mỹ.


Nhưng cũng không sao. Khi chúng tôi đi ăn phở ở hai tiệm khác nhau, chúng tôi đã hỏi ra được số phone của hai vườn, một của người Việt và một của người Miên – mà người ở quán phở nói lầm là của người Phi. Chúng tôi cũng nhớ có thêm một vườn của người Việt khác được nhắc tới trong bài viết của VOA nhưng không hỏi ra được địa chỉ hay số điện thoại.

Sau khi rời khỏi tiệm phở, chúng tôi quyết định đi tới vườn nghe nói là của người Việt Nam. Chúng tôi có địa chỉ nên cứ thế tìm đường tới vườn này, nhưng khi đến con đường ghi trên miếng giấy thì là cả một vùng đầy nông trại trồng trái cây mênh mông mà không thấy ghi rõ bảng số. Hỏi thăm một người Mỹ hay Cuba gì đó về số nhà này thì họ không biết. Chúng tôi bèn gọi điện thoại thì được nói chuyện với bà chủ vườn, hỏi xin vào thăm và mua trái cây về ăn, lúc đầu bà ta nói hết trái cây rồi vì đã qua mùa từ lâu. Chúng tôi bèn xin vào thăm vườn chơi, cũng may bà tử tế nói để bà gọi điện thoại cho ông chồng của bà ra mở cửa cho vào. Chúng tôi theo lời hướng dẫn tìm ra được cổng vào vườn và khi ông chủ vườn, mà sau này được biết tên là ông Quách Điệp, bấm nút mở cổng thì chúng tôi khoan khoái lái xe vào đậu trong sân.

Vườn trái cây này vừa rộng, vừa đẹp, vừa khang trang, chúng tôi có cảm tưởng chủ nhân là một nhà triệu phú và lẩm cẩm nghĩ trong đầu “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, biết cách trồng cây ăn trái cũng có thể trở nên giàu to.” Nghĩ tới mình đi làm thầy giáo lương ba cọc ba đồng chúng tôi đã tiếc khi xưa không đi lập nghiệp ở Florida, mua một mảnh đất về cũng trồng cây ăn trái, vừa sống yên vui vừa khỏe vì làm vườn suốt ngày, vận động thể lực hết lo bệnh với ốm đau. Nhưng nghĩ chơi thế thôi chứ mình vốn là nhà giáo làm sao biết trồng cây, chăm lo vườn tược mà đòi làm. Bản chất con người là thấy người khác làm thành công thì mình cũng háo hức muốn làm nhưng có biết đâu rằng mình làm gì có khả năng làm được?

Như vậy chúng tôi vừa đi quanh vườn vừa nói chuyện với ông chủ vườn. Chúng tôi nói chúng tôi thèm nhãn và na (mãng cầu), nhất là na vì ở Bắc California nơi chúng tôi ở không thấy bán bao giờ. Nhớ lại những lần đi Vancouver, Montreal, Paris, và Rio de Janeiro chúng tôi cứ đi tìm na mà mua về ăn. Riêng ở Rio thật là buồn cười, người ta cứ bưng từng mẹt nhỏ na đứng giữa lộ mời mua, chẳng sợ xe cán gì hết, cảnh này giống như cảnh bán hàng rong ở Bến Lức hay ở những trạm nơi xe đò Miền Tây dừng lại cho khách lên hay xuống hay bốc dỡ hàng hóa từ trên mui xe, có khác là ở Rio chỉ có một hai người bán na mà thôi, không bu đông như ở Việt nam thời xa xưa. Nghĩ lại cảnh xứ nghèo nơi đâu cũng giống nhau là thế.

Ông Quách Điệp, chủ vườn, tay cần chiếc kìm cắt cành cây nhanh nhẹn đi quanh quẩn nơi những cây na, miệng nói: “ Hiện nhãn thì hết rồi, mãng cầu cũng hết luôn, nhưng sáng nay đi loanh quanh tôi thấy còn một hai trái, để tôi cắt tặng qúi vị…” Và
ông đã cắt được cho chúng tôi bốn năm trái gì đó, những trái na cuối cùng trong mùa. Thấy ông trồng nhãn nhiều hơn na, chúng tôi hỏi tại sao, ông giải thích hái na cực lắm, phải khom lưng đi lựa từng trái, mất công nhiều mà bán cũng không được bao nhiêu tiền, trong khi nhãn chín từng chùm, không phải lựa, mà lại chin cùng một lúc dễ cắt bõ thùng đêm đi bán. Thấy vườn của ông cũng rộng, chúng tôi hỏi sao to thế, ông nói đâu có lớn gì, có 5 mẫu mà thôi. Thế nhưng đi trong vườn trái cây của ông chúng tôi thấy thích thú như đi trong vườn nhà riêng không phải là vườn trồng cây kỹ nghệ, vì nó sạch sẽ, đẹp mắt, đường đi rộng rãi, sáng sủa, cây cối xanh tươi được chăm sóc kỹ càng. Chúng tôi hỏi ông có xuất cảng đi nơi xa không thì ông nói không vì sản phẩm của ông có đủ người tiêu thụ ở địa phương rồi, và vì tiền gửi trái cây đi xa như đi California rất mắc, giá thành của sản phẩm sẽ quá cao, nhất là phải gừi nhanh, một ngày là trái cây phải tới nơi không sợ bị hư.

Hỏi thăm ông đã vào nghề trồng trọt từ lâu chưa, ông kể ông sang Mỹ năm 1982 và đi làm khoảng mười năm rồi mới mua khu đất này với kế hoạch trồng cây ăn trái. Bà vợ ông vẫn đi làm, chỉ có ông ở nhà lo trồng trọt mà thôi. Hỏi các con ông sau này có muốn làm vườn cây như ông hay không, ông cười nói: “Chúng nó học hành tới nơi tới chốn, đâu muốn làm công việc nặng nhọc này làm chi?” Nhưng nhìn căn nhà lớn như một toà lâu đài nhỏ, xung quanh có hồ sen nuôi cá, có vườn hoa, có khu ngồi giải trí ăn uống hội hè ngoài trời, chúng tôi thấy ông đã thành công vượt bực, ít tai có thể được như vậy. Đứng từ ngoài cổng nhìn vào khu vườn của ông Quách Điệp, ít ai nghĩ rằng đây là một vườn cây ăn trái trồng có tính cách làm ăn vì từ cửa vào cho đến bên trong có lát đá, hai bên có dàn cây dừa, có thảm cỏ xanh mướt, trực diện là toà nhà đồ xộ nơi gia đình chủ vườn cư ngụ, bên trong nhà xe là những chiếc xe hơi sang trọng đắt tiền. Có lẽ ông Quách Điệp làm vườn này vì cái thú hơn là vì muốn làm ăn buôn bán nên vườn ông tương đối nhỏ, so với những vườn khác và đẹp hơn nhiều.

Một vườn khác chúng tôi đến thăm sau đó là vườn trái cây mang tên Lady Chockley Farms cũng ở gần đó đi khoảng chừng 15 phút là tới. Nhưng cũng như lần trước đến tới nơi, chúng tôi không sao tìm ra được vị trí của vườn. Do đó chúng tôi lại gọi điện thoại và người chủ vườn, một phụ nữ người Kăm Pu Chia nghe chúng tôi nói là người Việt Nam thèm được đi thăm vườn và mua trái cây, bà rất niềm nở. Bà nói bữa hôm đó bà không có mặt ở vườn vì có công chuyện phải đi khỏi, nhưng sẽ bảo người em tiếp chúng tôi. Bà nói đường vào vườn của bà khó kiếm nên hẹn chúng tôi ở trạm xăng đầu phố, chờ ở đó sẽ có người ra đón vào. Chúng tôi đến trạm xăng chờ mãi hơn nửa tiếng đồng hồ thì mmới có một người đàn ông lái một chiếc xe truck tới vẫy tay bảo chúng tôi chạy theo, Đường vào vườn là đường đất đỏ gồ ghề, xe nhẩy lên nhẩy xuống tưởng lòi con tim ra ngoài mấy lần. Nhưng cuối cùng cũng vào đến nơi. Vườn này đúng là vườn công nghệ, không có nhà ở, mà lại to bằng hai lần vườn ông Quách Điệp. Vườn không sạch sẽ như vườn kia, chỉ thấy trồng có nhãn và ổi, nhìn xa hơn xung quanh vườn thì trồng mít. Lúc thăm vườn chúng tôi không thấy những cây mít nhưng lúc trở ra ngồi trên xe, chúng tôi thấy những cây mít chi chít trái quả nào quả ấy to bằng cái thúng, đầy trên thân cây.

Có một điều lạ lùng là ở đây vườn nhãn, có chắc củng phải mấy trăm cây, thì lại chi chit quả, những cây nhãn chỉ cao hơn đầu người có những chùm nhãn quả nào quả nấy to mọng cùi dầy, hột nhỏ, nước ngọt thơm gần như nhãn Hawaii, có loại vỏ cũng dầy màu cũng ngăm đen như thế. Người đàn ông đưa chúng tôi vào đến nơi xong lẫn đi chỗ khác, một người đàn bà Kăm-pu-chia trông vẻ nhà quê hiền lành ra tiếp đón chúng tôi niềm nở và vui vẻ đưa chúng tôi đi loanh quanh. Chúng tôi tha hồ hái nhãn ăn, nhiều nhãn chin rớt đầy xuống đất xung quanh gốc cây, trông thấy mà tiếc, nhiều chùm bị kiến ăn rồi làm tổ ngay đó, thấy những đốm to đen trắng trên những trái nhản, thấy thật uổng.

Như thế một số không ít nhãn để chin quá chưa kịp hái xuống đêm bán đã bị hư. Ngoài nhãn ra còn hàng hàng lớp lớp nhựng cây ổi thấp lè tè mà quả thì nhiều và bự, mỗi trái ổi được bao lại chờ ngày chín là cắt bỏ vào thùng gửi đi bán.

Sau khi đi chán chê ngoài vườn, ai nấy người tay cầm chùm nhãn, kẻ cầm rổ ổi, chúng tôi được mời vào ngồi tạm trong nhà kho, nghỉ chân uống nước, trong khi người đàn bà Kămpuchia còn đi sang khu vườn riêng của bà hái thêm nhãn thứ đặc biệt cho chúng tôi. Khi hỏi tính tiền để trả thì bà ta nhất định không lấy tiền, nói rằng người em gái đã nói trong điện thoại rằng chúng tôi là bạn đến chơi, phải tiếp đón tử tế mà không có chuyện mua bán gì hết. Thực lòng chúng tôi cũng thấy ái ngại vì chúng tôi có quen biết gì bà em của bà này đâu, và trong ruột cứ nghĩ bà này hiểu lầm. Nói xin trả tiền mãi cũng không được, chúng tôi phải cám ơn lên cám ơn xuống rồi ra về, trong lòng vẫn cứ thấy áy náy làm sao.


Thế rồi như có duyên với Lady Chockchey, sáng hôm sau khi chúng tôi đi ăn phở trước khi lên đường trở về Tampa, lúc vừa chuẩn bị trả tiền ra đi thì có một người đàn bà có nước da ngăm ngăm, người gầy dong dỏng cao vào ngồi ăn phở. Bà này kêu mấy người hầu bàn đi ra xe của bà ta khiệng một quả mít bự vào tiệm phở, hỏi ra mới biết chính bà là chũ nhân cái vườn mà hôm trước chúng tôi mới đến thăm.

Thế là chúng tôi vây quanh bà này tíu tít nói chuyện. Bà ta kể bà nhớ quê hương Kăm pu chia của bà, nhớ người đồng hương mà không có ai ở Miami, nên thường đến tiệm phở này ăn để thấy người Việt Nam và nói chuyện cho đỡ nhớ nhà. Lady Chockchey nói được tiếng Pháp thông thạo, thế là chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Bà kể năm nào bà cũng về thăm quê hương của bà, và chúng tôi
đề nghị có lần nào đó chúng tôi sẽ cùng đi với bà để được thăm xứ Căm bốt rất đẹp mà chúng tôi chưa được đến xem Angkor Wat bao giờ. Chúng tôi trao đổi số phone để liên lạc với nhau sau này. Chúng tôi bịn rịn chia tay như thể đã quen biết nhau từ lâu nay mới gặp lại. Thật là một kỳ duyên lý thú.

Thế là chấm dứt cuộc đi chơi bốn ngày ba đêm ở Miami. Còn rất nhiều nơi chúng tôi chưa được tới thăm, nên đành tự hứa lần tới đến Miami sẽ đi vào tháng Bẩy, tháng có nhiều na, và sẽ đi thăm tiếp những nơi lần này chúng tôi chưa có dịp tới.

PHỤ CHÚ:


Ðịa chỉ vườn cây của ông Ðiệp Quách: 18100 SW 136th St, Miami, Florida, 33196
Số điện thoại: (305)259-7693

Ðịa chỉ vườn trái cây của ông Chính Nguyễn: 12880 SW 208th St, Miami, Florida, 33177
Số điện thoại: (305)310-6294

Ðịa chỉ vườn trái cây của lady Chockley (người Miên) 18025 SW 182nd Ave, Miami, Florida, 33187
Số điện thoại: (954)632-6470



Welcome to South Beach Kayak! http://www.southbeachkayak.com/
Fairchild Tropical Botanical Gardens http://www.fairchildgarden.org/
Miami Seaquarium http://www.miamiseaquarium.com/

Con đường Hồi Giáo

Trước mỗi lần lên đường, tôi cố gắng trút bỏ mọi định kiến, mọi hình dung. Tôi dốc cạn để đầu óc trỗng rỗng, không mong chờ, không phán đoán.


Tôi liều mạng để trái tim mình rộng mở, trần trụi.

Và tôi lên đường như một tờ giấy trắng, với niềm khát khao được phủ kín, được lấp đầy, được đổi thay.

Thưa cùng bạn đọc


Bạn đọc thân mến!


Trung Đông và Hồi giáo là những vùng đất và khái niệm không xa lạ gì với người Việt Nam. Tuy nhiên, để thẩm thấu được những diễn biến lịch sử-văn hóa-chính trị phức tạp của nó thì cả thế giới, bao gồm cả giới học thuật, không ai dám đánh cược 100% vào sự hiểu biết của chính mình. Sự mâu thuẫn nội hàm xuất hiện từ trước khi Hồi giáo hình thành, bùng cháy, hoặc âm ỉ qua nhiều thăng trầm lịch sử, và đột ngột trở nên dữ dội từ sau sự kiện Tháp Đôi bị khủng bố Al-Qaeda tấn công năm 2001. Cũng như nhiều đồng nghiệp khác tại châu Âu, tôi bị cuốn vào một trào lưu học thuật sôi động với mục đích tìm kiếm các chân rễ sâu xa của một trong những cuộc xung đột văn minh và tôn giáo được coi là lớn nhất thế kỷ 21: Islam đối chọi với Islamism.

Vậy Islam là gì và Islamism là gì?


Trong quá trình biên tập lại cuốn sách này từ một loạt bài đã đăng trên tạp chí Đẹp và Tia Sáng, vô số lần tôi phải băn khoăn dừng tay gõ máy. Bệnh nghề nghiệp khiến tôi luôn có xu hướng đào sâu lăn xả vào những ngõ ngách tiểu tiết, giải thích cho ra ngọn ra ngành, tỉ dụ như hai thuật ngữ tôi vừa nêu. Tuy nhiên, nhiều lần đã gõ hàng trăm chữ rồi tôi lại hậm hực nhấn nút xóa, đơn giản vì cuốn sách được viết với tư cách một kẻ lăn lê trên đường chứ không phải một cô ả đeo kính nhăm nhăm chỉ chực cắm mũi nhảy vào đống tư liệu. Nhưng rồi những câu chữ xuê xoa lại khiến tôi bực bõ vì vấn đề không được nhìn thấu đáo. Và thế là tôi cứ bị ném qua ném lại như một quả lắc đồng hồ bất đắc dĩ.


Bị ném qua ném lại trầy trụa một hồi thì sách cũng viết xong. Tôi chọn cách làm dâu trăm họ, tức là viết xả dàn, và tranh thủ chèn nén một vài thông tin tham khảo sâu để làm hài lòng những bà mẹ chồng khó tính ☺. Tôi hy vọng thế hệ bạn đọc khá ngoại ngữ liên tục để mở công cụ tìm kiếm google khi đọc sách, bởi sau mỗi thuật ngữ, mỗi lời bình có vẻ bâng quơ, mỗi chi tiết dễ trôi tuột đi là cả một thế giới phức tạp nhưng sống động và biến chuyển hàng giờ, bởi Trung Đông là một thực thể khổng lồ luôn cựa mình quẫy đạp, bởi lịch sử nhiều năm độc tài khiến thông tin không đồng bộ và bị bưng bít, bởi những xung đột và bất đồng chính kiến đã trở thành một phần của các nền văn hóa nơi đây. Bản thân tôi tự biết cuốn sách có thể nhiều sai sót. Hy vọng sẽ chỉnh sửa kịp thời trong những lần tái bản.


Để thuận tiện, tôi cũng xin liệt kê trong phần này một vài quy tắc dùng từ, tên riêng, và thuật ngữ. Nếu bạn là cô em chồng dễ tính, chỉ đơn giản là muốn đọc một cái gì đấy cho khuây khỏa trong lúc chờ làm móng chân, thì xin cứ việc “Bỏ qua!”.


Abaya: Áo choàng rộng, dài tới gót chân trùm ra bên ngoài, hầu hết bằng lụa đen, để lộ khuôn mặt, thường được một số phụ nữ Hồi giáo khoác bên ngoài khi đi ra đường.


Allah: Tiếng Ả Rập chỉ Thượng Đế – Đấng Tối Cao duy nhất trong hệ thống các đạo độc thần (Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo…). Với một số đạo đa thần, Allah cũng chỉ là một vị thần trong vô số các vị thần được thờ phụng. Ví dụ như ở Việt Nam, Allah có thể hiểu là ông Trời.

Bedouin: Nhóm dân Ả Rập sống cuộc đời du mục trên sa mạc.


Burqa: Bộ đồ trùm kín hoàn toàn cơ thể từ gót chân lên đỉnh đầu của một số phụ nữ Hồi giáo, riêng mắt có tấm che bằng vải thưa, thường được mặc ở Afghanistan.

Caliph: Người kế vị thiên sứ Muhammad.

Fatwa: Ý kiến chính thức từ một lãnh đạo tôn giáo có danh tiếng (mufti), thường có sức nặng tương đương luật pháp. Đây được coi như quyền lực tôn giáo thứ tư, sau Kinh Quran, hadith của Muhammad, và sự đồng thuận đã có từ trước. Vì fatwa dựa trên sự hiểu biết của cá nhân nên cùng một vấn đề mỗi mufti lại có những fatwa khác nhau, từ những vấn đề phức tạp và nghiêm trọng như lời kêu gọi giết tác giả “Những vần thơ của quỷ satan” từ giáo chủ Iran Khomeini, hay những chuyện tưởng chừng rất đơn giản như fatwa khẳng định Coca Cola và Pepsi không có chất kích thích và tín đồ Ai Cập hoàn toàn có thể uống mà không sợ phạm luật Hồi giáo.


Hadith: Những câu chuyện, lời nói, lối cư xử của Muhammad, được truyền tai từ người này sang người khác và chỉ được ghi lại sau khi Muhammad đã chết được chừng hai thế kỷ. Tuy nhiên, đây lại được coi là kim chỉ nam cho Hồi giáo, quyền lực vô cùng mạnh mẽ chỉ đứng sau Kinh Quran. Các học giả Hồi giáo đều cho rằng có quá nhiều hadith giả mạo, được hình thành để củng cố địa vị của giai cấp thống trị, hoặc để phục vụ cho các mục đích cá nhân giả danh tôn giáo. Ví dụ hadith “Muhammad cho rằng ăn bánh quy bột sẽ làm đàn ông khỏe hơn” được phát tán từ một ông chủ làm bánh quy bột. Tác giả của tuyển tập hadith nổi tiếng nhất Al-Bukhari chọn ra được xấp xỉ 7000 hadith từ hơn 300.000 hadith được lưu truyền, tức là xác suất sai cũng khá lớn và không ai có thể dám chắc những hadith mà Al-Bukhari chọn là những hadith thực sự. Mỗi tuyển tập hadith lại có một số lượng khác nhau. Mỗi hadith lại được đánh giá với ba chỉ số tin cậy cao thấp: “nguyên bản” (sahih); “tốt” (hasan); hay “kém” (daif). Mỗi trường phái Hồi giáo lại có những cách đánh giá hadith ở mức độ tin cậy khác nhau, với những quan điểm khác nhau, chấp nhận những hadith khác nhau với nội dung thậm chí trái ngược nhau. Chính vì vậy, nhiều học giả Hồi giáo ủng hộ quan điểm chỉ dựa vào Kinh Quran và loại bỏ hoàn toàn hoặc một phần quyền lực của hadith (Quranism).

Hijab: Khăn choàng chỉ che mái tóc, thường có nhiều màu sắc sặc sỡ, được dùng bởi đa số các phụ nữ.

Imam: Người hướng dẫn cầu nguyện, cũng thường đóng vai trò là người hướng đạo, hoặc là người lãnh đạo tôn giáo, nhất là dòng Hồi Shia.

Islam: Nghĩa là “Người vâng mệnh”, là tôn giáo độc thần dòng Abrahamic, cùng nguồn gốc với Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo. Người Trung Quốc khi nhìn thấy những người Hồi Hột theo tôn giáo “lạ” nên dùng tên của dân Hồi Hột để chỉ Islam. Người Việt tiếp nhận phiên âm tiếng Trung nên gọi là Hồi giáo.

Islamism: Chủ nghĩa Hồi giáo, chủ trương dùng Islam làm kim chỉ nam cho toàn bộ đời sống văn hóa và chính trị của xã hội. Thuật ngữ này hiện nay thường được dùng theo nghĩa khá tiêu cực, chỉ các tổ chức và phong trào chính trị Hồi giáo cực đoan để đối lập với các phong trào trung dung (moderate). Tuy nhiên, phần lớn tín đồ Hồi giáo không phân biệt được sự khác nhau giữa Islam và Islamism. Từ kinh nghiệm cá nhân, xin hết sức lưu ý khi dùng thuật ngữ này để tranh luận với các tín đồ Hồi vì sự nhạy cảm tôn giáo và bản năng tự vệ tôn giáo.

Islamist: Người theo chủ nghĩa Hồi giáo.

Jihad: “Chiến đấu” vì Thượng Đế. Từ này có hai nghĩa, cuộc chiến trong tâm khảm và cuộc chiến vũ lực, hiện nay thường được dùng với nghĩa cuộc chiến vũ lực. Các “chiến binh của Thượng Đế” gọi là jihadist.

Kaaba: Nghĩa là “khối vuông”, trước khi Hồi giáo ra đời, bán đảo Ả Rập có rất nhiều kaaba là nơi thờ cúng các thánh thần. Sau khi Hồi giáo thành hình, các tượng thánh thần bị dẹp bỏ, đa thần giáo biến thành độc thần giáo, thờ một Thượng Đế. Chỉ một kaaba duy nhất được giữ lại tại Mecca, và tín đồ Hồi coi đây là trung tâm của thế giới.

Muslim: Tín đồ Hồi giáo, có thể là Islamist hoặc không.

Niqab: Bộ đồ trùm kín cơ thể chỉ để hở hai mắt, thường màu đen, xuất xứ từ bán đảo Ả Rập, một số học giả cho là một sản phẩm của Hồi giáo cận đại.

Quran: Tập hợp những mặc khải rải rác mà Thượng Đế gửi đến loài người thông qua thiên sứ Muhammad trong khoảng thời gian hai mươi ba năm.

Salafi: Các tín đồ Hồi giáo bảo thủ ở thế kỷ 20-21 nhưng rập khuôn theo cách sống của thiên sứ Muhammad và tổ tiên ba đời đầu của Islam ở thế kỷ thứ 7 vì họ cho rằng chỉ có Hồi giáo ở thời kỳ này là còn tinh khiết. Một số tín đồ salafi không những rập khuôn về tư tưởng mà còn về cách sinh hoạt với nhiều cấp độ, từ việc để râu, xỉa răng, mặc quần áo, đi chân nào vào nhà vệ sinh trước, đến việc nhai bằng hàm bên phải, không ăn dưa hấu (!)…

Shariah: Luật Hồi giáo được con người xây dựng dựa trên nguồn pháp lý tối cao là Kinh Quran và bên cạnh đó là các lời dạy cũng như cách sống của thiên sứ Muhammad (Hadith). Ngoài những điểm đặc biệt tiến bộ và nổi trội so với các bộ luật và tôn giáo cùng thời điểm lịch sử (ví dụ như quyền phụ nữ), Shariah cần được hiểu là một bộ luật được xây dựng trên bối cảnh xã hội bộ lạc Ả Rập từ hơn 1000 năm trước với những quy tắc ứng xử và khung hình phạt khắc nghiệt, khá tiêu biểu cho thời kỳ này (ví dụ như ăn trộm sẽ bị chặt tay). Ngoài ra, Shariah còn có những chế tài chỉ dựa vào hadith (không đáng tin cậy 100%) mà không hề có cơ sở trong Kinh Quran (ví dụ như tội thông dâm sẽ bị ném đá đến chết). Chính vì thế phong trào Hồi giáo cực đoan và Islamism với tư tưởng hồi phục và thực thi Shariah gây phẫn nộ cho châu Âu và nhiều nước trên thế giới khi một bộ luật từ hơn 1000 năm trước được áp dụng cho thế kỷ 21. Để dễ liên tưởng, bạn có thể tưởng tượng hình phạt “gọt đầu bôi vôi, thả bè trôi sông” cho tội gian dâm ở Việt Nam thời xưa được áp dụng vào xã hội hiện nay

Shia: Một nhánh chính của Islam chỉ những tín đồ Hồi giáo ủng hộ Ali – con rể và con nuôi của thiên sứ Muhammad. Một số tài liệu tiếng Anh dùng Shiites

Sunnah: Lối sống và cách suy nghĩ của thiên sứ Muhammad.

Sunni: Một nhánh chính của Islam noi gương theo lối sống (sunnah) của Muhammad, hiện nay gồm đại đa số người Hồi trên toàn thế giới, xấp xỉ 90%.

Thiên Chúa giáo: Là hệ thống đạo độc thần tin vào một đấng Thượng Đế tối cao duy nhất (Do Thái, Kitô, Hồi giáo…). Tuy nhiên, để thuận theo cách dùng của số đông người Việt, trong sách này “Thiên Chúa giáo” mang nghĩa là Ki-tô giáo (phiên âm tiếng Hy Lạp) hay còn gọi là Cơ Đốc giáo (phiên âm tiếng Hán).

Thiên sứ: Các sứ giả của Thượng Đế, được Thượng Đế mặc khải và có nghĩa vụ chuyển mặc khải đó đến cho loài người. Tùy theo trường phái tôn giáo mà số lượng các thiên sứ từ vị đầu tiên là ông tổ Adam thay đổi, thậm chí một vài trường phái độc thần tin rằng đức Phật, hay Khổng Tử cũng là thiên sứ. Người Hồi tin rằng Muhammad là vị thiên sứ cuối cùng. Người Thiên Chúa giáo tin Jesus là con của Thượng Đế trong khi người Hồi cho rằng Jesus cũng chỉ là một vị thiên sứ người trần mắt thịt đến trước Muhammad mà thôi.

Umma/Ummah: Nghĩa nguyên bản là “cộng đồng đa tôn giáo”, nghĩa thường được hiểu hiện nay gói gọn trong “cộng đồng các tín đồ Hồi giáo trên toàn thế giới”.


Wahhabi/Wahhabism: Một nhánh tư tưởng bảo thủ và cực đoan trong việc diễn giải Islam dựa trên các học thuyết của người sáng lập Muhammad Abd-al-Wahhab đến từ một bộ lạc trên bán đảo Ả Rập.

Zakat: Một phần tài sản các tín đồ Hồi giáo có nghĩa vụ đem làm từ thiện. Đây là một trong năm điều răn chính của Islam. Hầu hết các thuật ngữ được dùng phiên âm gốc từ tiếng Ả Rập. Tuy nhiên, một số tên riêng đã quen thuộc sẽ được giữ nguyên phiên âm từ tiếng Anh, ví dụ Mecca chứ không phải Makkah, Cairo chứ không phải Qahirah.

Tên của một số nhân vật trong sách đã được thay đổi. Nguyên nhân chủ yếu là do một số phụ nữ Hồi giáo không cảm thấy thoải mái khi cuộc sống riêng với bạn bè và gia đình bị đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng. Vài bạn gái của tôi sau khi chụp ảnh chung yêu đã cầu tôi xóa hoặc hứa sẽ không đưa lên facebook và internet.

Lược đồ tôn giáo

9
Palestine – Mê cung của niềm tin


Tôi còn nhớ những ngày rất bé, chừng 10 tuổi, đọc báo Thiếu Niên có một bài viết tựa đề là: “Palestine Nuna – Đất Palestine là của người Palestine”. Bài viết có hình ảnh một cô bé trạc tuổi tôi, mắt mở to thảng thốt. Đôi mắt ấy in sâu dai dẳng theo suốt những năm tháng tôi lớn khôn. Bài viết về một vấn đề chính trị to tát nhưng đăng vắn tắt trên tờ báo trẻ con đã làm nên một điều thần kỳ: tôi chẳng biết Palestine là ở đâu, dân Palestine là ai, cái gì đang diễn ra trên vùng đất ấy, nhưng tôi tin chắc một điều: lẽ phải luôn thuộc về người Palestine.


Niềm tin đơn giản và ngây thơ ấy, bất chấp bao nhiêu cuộc chiến thông tin, đã tìm được cách gắn chặt vào tiềm thức của tôi, cho đến ngày tôi gặp Ahmad trong một trại tị nạn của người Palestine ở Li Băng. Chưa kịp nghe tôi mở miệng, anh đặt tay lên vai tôi và nhẹ nhàng nói: “Mai à! Trên đời này làm gì có cái gọi là đất nước Palestine?”


Câu chuyện của Ahmad làm đảo lộn niềm tin thiêng liêng của tuổi thơ tôi.

Đất lành chim đậu, cú cáo
trị vì


Từ xa xưa khoảng hơn 3000 năm trước,
vùng đất rộng lớn phía tây bán đảo Ả Rập là
nơi sinh sống của một số tộc người Ả Rập.
Rất nhiều bộ lạc khác cũng di cư đến đây
như một quy luật tất yếu của dòng chảy
cuộc sống. Hai trong số những bộ lạc di cư
này là tộc người Israel đến từ Ur (thuộc
Iraq bây giờ) do họ tin rằng Thượng Đế đã
hứa ban tặng cho những đứa con cưng của
mình một miền đất mới trù phú, điều này
được viết trong Kinh Cựu Ước của người
Do Thái. Tộc người thứ hai từ vùng đảo Crete (Hy Lạp bây giờ) cũng vượt biển tới đây tìm nơi sinh sống mới. Người từ đảo Crete mạnh mẽ, thiện chiến, trở thành kẻ thù của nhiều tộc người khác do chiếm được nhiều đất đai, thậm chí gây hấn cả với Pharaoh Ai Cập. Họ được người Israel gọi là Peleshet (tiếng Anh – Philistine), có nghĩa là những người di cư và chiếm đóng. Cái tên Palestine lần đầu tiên được nhắc đến bởi một nhà sử học Hy Lạp, ám chỉ vùng đất nơi những người của nhiều bộ tộc khác nhau cùng đến di cư và tranh chấp.


Hơn 1000 năm sau đó, khu vực này nằm dưới sự trị vì của đế chế La Mã rộng lớn. Tộc người Israel khi đó đã lớn mạnh và thành lập nhà nước vững vàng nhưng cũng không thoát khỏi ách đô hộ của La Mã. Họ liên tục nổi dậy. Hoàng đế La Mã sau khi đập tan một cuộc cách mạng của dân Do Thái Israel thì quyết định đổi tên quốc gia này thành Palestine, sáp nhập vào với cả vùng đất rộng lớn của các tộc người Ả Rập
gốc quanh đó nhằm xóa bỏ triệt để dấu ấn của nhà nước Do Thái. Cái tên Palestine và người Palestine tiếp tục được Syria, đế chế Thổ Nhĩ Kỳ và đế chế Anh dùng để chỉ vùng thuộc địa bao la của mình. Vùng đất tên là Palestine đó, một vùng đất không có đường biên rõ ràng với một vài thành phố lớn và hàng trăm bộ lạc sống bên cạnh nhau: người Ả Rập, người Do Thái, người Thiên Chúa, người Hồi, người từ đủ các cành nhánh tôn giáo nhỏ hơn. Tất cả bọn họ đều tự nhận mình là người vùng Palestine. Đó không phải là một quốc gia độc lập mà đơn giản chỉ là một cái sân chim.


Tuy nhiên, đất lành không những chỉ có chim đậu mà còn có cả cú cáo muốn trị vì. Hai đế chế lớn La Mã và Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman coi Palestine là thuộc địa của mình nhưng giữ nguyên vùng đất này với cấu trúc thành phố tự trị và bộ lạc. Ottoman hùng mạnh chừng được 500 năm thì hai ông lớn Anh và Pháp nổi lên. Để đánh sụp Ottoman, Anh, Pháp đi đêm với tất cả các bộ lạc và sắc tộc ở Palestine cùng các vùng xung quanh, xúi giục họ nổi dậy chống lại kẻ đô hộ. Với sắc tộc nào Anh, Pháp cũng mạnh mồm hứa hẹn sẽ giúp họ chuyển đổi từ cơ chế bộ lạc và thành phố tự trị lên thành quốc gia, và cho họ quyền lập nhà nước
tự chủ một khi đế chế Ottoman sụp đổ.


Khi công việc đã xong xuôi, hai ông lớn chia nhau phần đất đai cai trị thì câu chuyện vỡ óc mới thực sự bắt đầu[44]. Họ ngồi vào bàn, và với cây bút chì trong tay bắt đầu kẻ vẽ các đường biên giới. Một vùng đất rộng lớn nhoằng cái đã trở thành năm quốc gia mới toanh. Mỗi đường biên là một mưu mô toan tính vô cùng cẩn thận, đại để là làm thế nào để các quốc gia mới sẽ không-bao-giờ yên ổn, sẽ lúc nào cũng
chênh vênh. Thế thì mới dễ cai trị. “Chia để trị” mà. Và thế là từ cơ thể Syria, Li Băng được Pháp xé ra hình thành một quốc gia mới để sao cho các sắc tôn giáo Thiên Chúa, Hồi giáo Sunni, Shia và Hồi giáo dòng Druze sẽ luôn phải dè chừng nhau. Kuwait được Anh đẻ non bằng cách vặt một mẩu từ Iraq nhằm mục đích chắn đường Iraq không cho ra biển (sau này cuộc chiến Iraq mang quân đánh Kuwait chính là
để đòi lại đất ngày xưa). Đồn rằng, khi đang vẽ đường biên giới Jordan thì tự dưng ông Churchill hắt hơi một cái, thế là lãnh thổ của Jordan nguệch vào Saudi một phát. Churchill quẹt nước mũi, cúi xuống và tiếp tục đưa bút lượn trở lại vị trí cũ, thế cho nên đường ranh giới của Jordan trông mới kỳ quái như vậy. Cứ thế, các quốc gia mới của bán đảo Ả Rập được hình thành dưới quyền đô hộ của Anh và Pháp. Chẳng có nước nào được độc lập trọn vẹn, thậm chí tộc người Kurd với dân số tới 40 triệu, dù được hứa sẽ cho lập nước nhưng cuối cùng bị phản bội trắng trợn khi vùng đất nơi họ sinh sống bị chia thành năm phần, nằm ngửa mặt dang chân dang tay, mỗi phần thuộc về lãnh thổ của năm quốc gia khác nhau. Người Kurd cho đến bây giờ vẫn là dân tộc không quê hương lớn nhất và thảm thương nhất trong lịch sử hiện đại.

Israel


Tôi rời Jerusalem và bắt xe đi dọc Israel: đất nước với sức sáng tạo kỳ diệu đã khiến sa mạc phải nở hoa, nhưng cũng là kẻ thù không đội trời chung với gần như toàn bộ Trung Đông. Cái quốc gia Do Thái nằm lọt thỏm giữa thế giới Hồi giáo rộng lớn này chẳng khác gì cái gai đâm thọc vào mắt, thế nên cả sáu mươi năm qua ở đây chưa lúc nào ngớt tiếng súng tổng tấn công hoặc bét ra là cũng phải vài trận bom cảm tử.
Cái sự ghét Israel lớn đến nỗi bất kỳ ai trên hộ chiếu có đóng dấu của hải quan Israel cũng có nghĩa là sẽ lập tức bị tống cổ khỏi biên giới của gần hai mươi quốc gia Hồi giáo khác nhau, kể cả Malaysia, Brunei và Bangladesh ở tít bên châu Á. Tôi nhớ lúc bắt đầu bước chân vào Israel, tất cả những gì tôi tâm niệm trong đầu khi xếp hàng chờ qua cửa khẩu là: “Không cho chúng nó đóng dấu! Nhất định là KHÔNG CHOCHÚNG- NÓ-ĐÓNG-DẤU!”

Thế cho nên tôi suýt gào lên khi mất bao nhiêu công giải thích đứt hơi mà vẫn nghe thấy gã nhân viên hải quan dang tay dập con dấu đánh CHÁT cái xuống bàn. Chưa để tôi kịp la làng, gã giơ lên cho tôi xem cái dấu xanh trên một mảnh giấy nhỏ kẹp vào đằng sau bìa hộ chiếu. Hú hồn!


Gia đình tôi ở nhờ có lẽ là điển hình của câu chuyện Israel. Tamara là người Nga, sinh ra trong một gia đình theo Do Thái giáo. Một ngày kia, cô được mai mối cho một anh chàng Do Thái cũng sống ở Nga nhưng nhìn như người ngoài hành tinh. Anh ta cạo trọc tóc chỉ để hai lọn dài vàng óng uốn xoăn tít ở hai bên mai rồi chụp lên trên một cái mũ quả dưa. Uriel cầu hôn cô, nói rằng không những yêu cô mà việc
cưới một người con gái Do Thái cũng tự nhiên và cần thiết như cá thì phải về với nước vậy. Luật Do Thái ghi rõ rằng tôn giáo đi theo dòng mẹ. Chỉ có những đứa trẻ sinh ra từ một người mẹ Do Thái thì mới đương nhiên được công nhận là người Do Thái. Việc ông bố có ngoan đạo sùng tín đến cỡ như Uriel, sống ở Nga mà vẫn cạo đầu để lọn chụp mũ, nhưng nếu không cưới một cô vợ Do Thái, hoặc ít nhất…
mẹ của cô ấy phải là người Do Thái thì con cái sinh ra cũng sẽ là người ngoại đạo.


Tamara trở thành vợ, và được ông chồng giàu đức tin giúp cô hiểu được nguồn gốc của dân tộc mình. Uriel dạy cô nói tiếng Hebrew của người Do Thái, cùng cô tra gia phả của dòng họ để biết rằng tổ tiên của cả hai người chỉ là một trong hàng triệu triệu nhánh nhỏ của người Israel từ suốt ba thiên niên kỷ nay lưu
lạc khắp năm châu bốn bể.


Hai năm sau ngày cưới, Tamara cùng chồng khăn gói rời Nga di cư đến Israel. Đối với họ, chữ di cư có thể bị hiểu là một từ khá phỉ báng, vì thực ra họ chỉ trở về nơi cội nguồn của dòng giống Israel, nơi vua David lập nên Vương quốc Israel từ 3000 năm trước, nơi người Israel bị hết chế độ thống trị này đến chế độ đô hộ khác chèn ép, xua đuổi khỏi đất đai của tổ tông, và suốt hàng nghìn năm qua vẫn liên tục tìm
đường trở về. Hai vợ chồng Tamara hòa vào hàng triệu người Do Thái chủ yếu từ châu Âu và Nga hối hả đặt chân vào Israel và ngay lập tức trở thành công dân Israel. Luật pháp của Israel đã quy định rõ: bất kỳ ai, chỉ cần chứng minh được mình là người Do Thái, thì sẽ được trao hộ chiếu.


Trong tổng số khoảng 800 giải Nobel từng được trao có tới ít nhất 20% thuộc về những người Do Thái sinh sống chủ yếu ở Mỹ và châu Âu. Cùng với dòng người trở về là một lượng kiến thức khổng lồ, sự đa dạng về văn hóa, sự rộng dài về tầm hiểu biết, sự nhạy bén và linh hoạt của những kẻ đã được thử lửa, đã kinh qua đau thương và mất mát, dám chấp nhận thử thách, dám thay đổi, dám xóa bỏ và làm lại từ đầu,
từ khắp năm châu bốn biển đổ về. Với một lịch sử non trẻ chỉ chừng sáu mươi năm, từ năm 2002 đến nay trung bình cứ một năm rưỡi Israel lại có một người được tặng giải Nobel.


Tôi ở nhờ nhà của Tamara và Uriel khá lâu, nhưng cho đến gần khi rời đi mới phát hiện ra cái phòng mình ngủ được trang bị một bộ cánh cửa sổ bằng thép rất kỳ quái. Tường nhà cũng rất dày, chừng 30 xen ti mét. Tiếng địa phương gọi căn phòng này là mamad. Từ năm 1991 khi Israel bị Iraq tấn công bằng tên lửa Scud, mỗi gia đình ở Israel phải trang bị một căn phòng kiên cố như vậy để tránh vũ khí hóa học và sinh
học. Đóng cửa vào là gần như vô trùng. Đóng lâu quá đà chắc chết ngạt luôn.

Arkansas

THĂM QUÊ TỔNG THỐNG CLINTON

Bảo Trân

***

Tác giả Bảo Trân tên thật Lý Tuyết Mai, cư dân Pomona, CA. làm việc tại Bộ Xã Hội. Đến Mỹ khi còn tuổi học trò, cô thuộc “thế hệ gạch nối” của người Việt tại Mỹ. Với bài viết về chính sách của Bộ Xã Hội Mỹ đối với trường hợp một cô bé gốc Việt 16 tuổi mang bầu, Bảo Trân đã nhận giải Vinh Danh Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2009.  Bài viết mới của cô là một du ký, đăng 2 kỳ. 

Viết tặng Hùng Yến thay một lời cảm ơn nồng ấm

Từ ngày tôi gặp lại Yến (con nhỏ bạn cùng học với tôi suốt 7 năm trời) tới nay cũng đã hơn mười mấy năm rồi mà tôi vẫn chưa có dịp đi thăm nó, trong khi vợ chồng Yến qua Cali thăm tôi đều đều. Lần nào, trước khi về thì vợ chồng Yến cũng mời mọc vợ chồng tôi qua chơi cho biết miền quê Tổng Thống, nơi mà nó nhận làm quê hương thứ hai đã hơn 30 năm, và lần nào thì tôi cũng hứa rồi… để đó. 

Không phải là tôi chê cái đất “A Con Sò” (Arkansas) khỉ ho cò gáy, mà tại vì mỗi lần tôi dự định đi sang chơi với nó đều có chuyện khác… xảy ra. Nếu không là cùng nhau đi ngao du sơn thuỷ thì hoặc là tôi bận, hay nó bận. Thành thử, ngày tháng cứ thế trôi qua mà tôi vẫn chưa có dịp bước chân đến cái thành phố mang tên “Hòn Đá Nhỏ”.

Tháng 10 năm ngoái, nhân dịp Southwest Airlines có đại hạ giá, đúng vào lúc cái thẻ “companion pass” (mua 1 vé được thêm 1 vé) của tôi sắp hết hạn, tôi mới nghĩ đến cái việc đi thăm bạn hiền, viếng thăm luôn quê hương ông Tổng Thống… “đẹp trai và nổi tiếng”. 

Tôi rủ bà chị đồng môn Hồng Loan đi chơi chung với tôi.  Bà chị thích lang thang của tôi cũng vui vẻ tán thành. Thế là chị em tôi báo tin cho Yến sửa soạn để đãi đằng khách quý.

*

Chiều thứ Ba, sau mấy tiếng đồng hồ ngồi chờ chuyển máy bay ở Phoenix, vợ chồng tôi và chị Loan, anh Đắc tới phi trường Little Rock.  Phi cơ đến sớm hơn giờ dự định nửa tiếng, thành thử chúng tôi bảo nhau cứ thong thả đi đến quầy lấy hành lý, nhưng không ngờ vừa ra đến nơi thì bác Tám Hùng đã chờ sẵn ở đó rồi. Phi trường nhỏ, ngày thường không đông đảo mấy nên hành lý được chuyển xuống nhanh chóng, chỉ chừng 15 phút sau là chúng tôi đã thấy được va-li của mình.

   Khi Hùng vừa cho xe vào sân thì Yến cũng vừa đi làm về. Ôm nhau chào hỏi thắm thiết xong chúng tôi theo chân Hùng, Yến vào nhà. Sau khi đem va-li vào phòng rồi chúng tôi xuống nhà, uống nước, nghỉ ngơi chờ chủ nhà làm cơm đãi bạn. Yến khoe là chiều hôm nay nó sẽ đãi chúng tôi món cơm tấm bì chả. Tôi ngồi nhìn nó làm cơm mà phục lăn.  Con nhỏ bạn của tôi, ngày đi lấy chồng chưa biết chiên cái trứng sao cho khỏi cháy bây giờ cũng đảm đang dễ sợ. Bì thì Yến đã ram thịt trộn trước mấy hôm cho thấm, chả trứng đã chưng ngày hôm qua chỉ việc hâm nóng lại, nước mắm pha sẵn và đồ chua lúc nào cũng có trong tủ lạnh, nên bây giờ nó chỉ cần nấu cơm, rửa rau và cắt dưa leo. Yến còn dạy tôi cách nấu cơm tấm bằng gạo thường, nó bảo, cứ bỏ gạo vào nồi, ngâm nước có bỏ chút muối khoảng 15 phút rồi vò mạnh, gạo sẽ gẫy ra và chỉ việc nấu là có… cơm tấm. Trong lúc chờ cơm chín tôi với Yến ra vườn hái rau thơm. Xứ “A Con Sò” lạnh lẽo tưởng là không trồng được gì, nhưng không ngờ con nhỏ bạn tôi cũng có một khoảnh vườn nhỏ đầy húng dũi, húng quế, dấp cá, cao nghều nghệu.

** DAY 1

Sáng thứ Tư, sau khi uống café, ăn sáng rồi Hùng chở chúng tôi đi dạo chơi một vòng thành phố.  Nơi đầu tiên chúng tôi đến viếng thăm là thủ phủ của Arkansas, một bản sao của Toà Nhà Quốc Hội Hoa Kỳ. Tòa nhà này được thiết kế theo phong cách bán cổ điển, cửa ra vào được đúc bằng đồng dầy, cao tới 3 thước. Sàn nhà, vách tường và những chiếc cầu thang to tướng cong vòng dẫn lên mấy tầng lầu đều được lát bằng loại đá Yule Marble, một loại đá cẩm thạch đặc biệt được đặt mua từ tiểu bang Colorado, bóng lộn. Xứ Arkansas giàu thiệt, nên vòm nhà thủ phủ được dát bằng vàng lá. Lộng lẫy như vậy nên thủ phủ Arkansas đã trở thành một địa điểm quay phim lý tưởng thay thế cho Toà Nhà Quốc Hội Hoa Kỳ. Hùng bảo, nếu anh nhớ không lầm thì những bộ phim như Under Siege, Stone Cold, và Amistad đã được quay ở đây.

Sau khi đi vòng quanh, chụp hình với khung cảnh bên trong, vườn hoa bên ngoài toà nhà, chúng tôi ra viếng đài tưởng niệm cựu chiến binh Việt Nam toạ lạc ở góc Đông Nam, ngay trong khuôn viên của thủ phủ. Nơi đây, có một bức tường đá đen nhỏ, kiến trúc tương tự như bức tường đá đen ở Hoa Thịnh Đốn, được khắc tên của 600 người con yêu của tiểu bang Arkansas đã hy sinh cho cuộc chiến Việt Nam, cùng với tên của 22 người được ghi nhận là mất tích.

Sau khi thăm viếng thủ phủ, Hùng chở chúng tôi ghé ngang qua Bill Clinton Center xem cho biết.  Không muốn mua vé vào cửa nên chúng tôi chỉ đi vòng vòng phía ngoài công viên.

Đi bộ trên một đoạn cầu Rock Island (bây giờ được đổi tên thành Clinton Presidential Park Bridge, chiếc cầu mang biểu tượng nối liền hiện tại với tương lai) bắc qua sông Arkansas. Ngày xưa, vào năm 1898, thì chiếc cầu này có một tuyến đường xe lửa, dẫn đến nhà ga Choctow (hiện thời là Clinton School of Public Service, một chi nhánh của Đại Học Arkansas tại Bill Clinton Center), nhưng đã được chuyển đổi từ năm 2011 thành một tuyến đường thể dục, dành cho khách bộ hành và “cua rơ” xe đạp vừa tập luyện thân thể khoẻ mạnh vừa dạo chơi, ngắm cảnh. 

Phía bên ngoài sân cỏ, đối diện với đầu cầu là một tấm bảng lớn, mang cả hai tên Rock Island và Clinton Presidential Park Bridge.  Tấm bảng có ghi chép tiểu sử của chiếc cầu này đầy đủ, từ lúc vừa chào đời cho đến ngày bị đổi qua một cái tên mới. Cũng trên tấm bảng này người ta đã gắn một tấm kính lớn, trong suốt, có những nét phác hoạ của một cái đầu tầu, mang số 51. Tấm kính này chiếu thẳng vào chiếc cầu, và nếu đứng đúng góc cạnh nào đó, phó nhòm khéo tay sẽ chụp được tấm ảnh của chuyến tầu 51 đang từ từ tiến vào nhà ga Choctow. 

Vì ánh nắng chói chang, cố gắng canh mãi mà mấy ông phó nhòm của chúng tôi cũng không lấy trọn được hình ảnh của một chuyến tầu cho hoàn chỉnh nên chúng tôi cũng bỏ qua đi tìm chỗ ăn trưa.   

Tiệm ăn đầu tiên ở Arkansas chúng tôi được Yến Hùng dẫn đến là tiệm Mike. Mới nghe qua cái tên tưởng là tiệm bán thức ăn Mỹ, nhưng khi đến nơi, nhìn hình ảnh phở, bún thịt nướng, mì thập cẩm, v.v… dán đầy bên ngoài khung cửa kính, tôi mới biết đây là tiệm ăn của đồng hương. Chắc Yến Hùng là khách quen của tiệm nên vừa bước vào chưa kịp tìm bàn ngồi thì bà chủ đã chạy ra niềm nở đón chào. Xa nhà (Cali), mà ngộ được cố tri (phở, mì, bún thịt nướng) thì cũng đỡ buồn!

   Hùng chở chúng tôi đi thêm một vòng ngoại ô thành phố, ghé ngang cái đảo nhân tạo ngắm cảnh sông nước, hóng mát một lúc rồi trở về nhà thanh toán hết cái món cơm tấm mà nhỏ Yến đã làm hôm qua. Ngày mai, chúng tôi sẽ có nguyên một ngày dang nắng, hy vọng sẽ tìm được may mắn của mình trong công viên kim cương nổi tiếng của vùng đất Arkansas. 

** DAY 2

Ngày hôm sau, thứ Năm, Hùng Yến dẫn chúng tôi đi “đào kim cương” từ sớm ở Crater of Diamonds State Park, công viên kim cương ở phía Tây Nam Arkansas, nơi mà được quảng cáo là đã có hơn 75 ngàn viên kim cương được tìm thấy, trong đó có những viên kim cương đáng kể như Uncle Sam (40.23 carat), Amarillo Starlight (16.37 carat), Star of Arkansas (15.33 carat), Esperanza (8.52 carat), và Strawn-Wagner, viên kim cương hoàn hảo nhất thế giới. Ngoài kim cương ra, người ta còn tìm được những loại đá quý như ngọc thạch anh, hồng lựu, mã não… tại cánh đồng này. Đây là cái công viên duy nhất ở Mỹ mà cư dân và du khách có thể tự do đào kim cương, và nếu may mắn tìm được viên đá quý nào thì cũng tự do đem về nhà mà không cần phải trả thuế hay lệ phí nào thêm cả. 

Thật tình mà nói, tôi không tin tưởng lắm vào cái vận may tìm được ngọc quý, bởi vì cái cánh đồng rộng 37 mẫu này đã được đào xới hơn trăm năm bởi các công ty kim cương Arkansas và Ozark, trước khi được trở thành State Park, thì cái việc tìm được đá quý hay kim cương ở đây còn khó hơn là tìm kim đáy biển.

   Thế nhưng tôi vẫn muốn đến, để nhìn xem cái công viên kim cương này nó như thế nào mà đã quyến rũ được cả du khách lẫn cư dân trong vùng, tiện thể, chụp vài tấm hình đi đào mỏ kim cương về… “triển lãm”.

   Lúc chúng tôi rời nhà thì trời có vẻ muốn mưa, nhưng khi đến nơi thì trời đổ cơn nắng gắt. May là, chúng tôi cũng đã chuẩn bị cho một ngày… phơi nắng ngoài đồng trống nên có sẵn nón rộng vành, khăn voan che mặt.

   Phải nói là những nhóm “thợ” đến đào kim cương rất lạc quan, đầy hy vọng, nên con đường duy nhất dẫn đến cánh đồng kim cương lúc nào cũng có những tốp người tấp nập ra vào. Giá vé đào kim cương cũng không rẻ, $10 cho người từ 13 tuổi trở lên và $6 cho trẻ em trên 6 tuổi, cho trọn ngày đào xới ngoài cánh đồng. Còn những người kiên trì đi tìm báu vật cũng có thể mua một xấp vé 20 ngày với một giá rất đặc biệt.

  

Chúng tôi đi theo Hùng Yến, băng qua toà nhà bán vé để vào cánh đồng kim cương. Ở trước con đường đất dẫn xuống cánh đồng là một gian phòng nhỏ, bán thức ăn nhẹ, cùng cho thuê những dụng cụ đào xới như cuốc, xẻng, rây đãi đá, và xô nhỏ dùng để đựng đất đã đào… Có đủ mọi cỡ giá tuỳ theo khách hàng muốn thuê từng món một, hay “trọn gói” với tất cả những vật dụng cần thiết, bao gồm luôn cái xe cút kít nhỏ để khách hàng khỏi phải nhọc công khiêng vác. Nhưng tôi thấy chỉ có một vài người đến thuê (chắc là du khách), vì phần đông “thợ” đào kim cương ở đây đã đem theo đầy đủ những gì họ cần. Ban điều hành công viên cũng không cấm đoán việc thợ mang đồ đạc từ nhà đến, miễn là các công cụ khai thác này không phải là những cái máy dò/đào chuyên nghiệp.

   Vì không có mục đích đi tìm kim cương mà chỉ dạo chơi ngắm cảnh ngắm người nên chúng tôi không thuê mướn gì cả. Cánh đồng rộng thênh thang nên thợ đào rải rác khắp mọi nơi. Tôi cũng tò mò sắn quần đi xuống ruộng kim cương, đến gần một nhóm thợ xem họ đã tìm kiếm được những gì.  Nhưng đứng một hồi nhìn họ cứ xới hết xẻng đất này đến xẻng đất khác rồi lại lắc đầu đổ xuống hố lấp tôi cũng không thấy hấp dẫn cho lắm nên lại lội lên con đường đất chính dẫn vào trung tâm sàng lọc có mái che, gần khoảng giữa cánh đồng. Ở đây, có đến tám cái bồn nước to dài, nước đang xả từng hồi xuống mấy cái rây sàng đất rất nhịp nhàng. Người đứng vòng quanh mấy cái bồn nước này cũng đông không thể tưởng, ai nấy đều bận rộn, chăm chú gạn lọc đất trong cái rây của mình, mong mỏi tìm được một vài viên “sỏi màu”, lóng lánh.

   Chờ mãi mà không nghe có tiếng reo hò nào hết, chúng tôi buồn quá nên đành phải giã từ cánh đồng kim cương để đi thăm một thắng cảnh nổi tiếng khác của Arkansas.

*****************

   Rời Crater of Diamonds State Park, chúng tôi đi thăm thành phố Hot Springs, nằm trong công viên quốc gia Hot Springs, cũng ở phía Tây Nam trung tâm Arkansas, nơi có nguồn suối nước nóng tự nhiên chảy ra từ trong dãy núi Ouachita. Thành phố Hot Springs này, bây giờ chỉ có rải rác vài ba nguồn nước còn chảy thoải mái ngoài trời, còn những nguồn nước khác đã được thành phố và những nhà thầu khai thác để làm những nhà tắm suối nước nóng dọc theo đường phố chính được mang tên “dãy nhà tắm” (Bathhouse Row).

   Chúng tôi bắt đầu chuyến viếng thăm Bathhouse Row từ cái bồn phun nước ngay đầu công viên quốc gia Hot Springs, bên ngoài toà nhà hành chính. Ở đây, có một dòng nước nóng rất mạnh phun lên từ mặt đất và đã được dẫn vào một cái bồn cảnh có nhiều vòi xả nước, rất tiện lợi cho những ai muốn uống thử nước suối thiên nhiên. Tôi không biết là nước suối ở nơi này uống có ngon không nhưng khi vừa đến nơi tôi đã thấy có người đang hứng nước từ vòi vào những bình đựng nước, rồi chuyển ra chất trên cái xe truck nhỏ của ông. Trong lòng cái xe truck này cũng chứa đầy những bình nước đủ kích cỡ, lớn nhỏ khác nhau. Hùng giải thích:

   – Có nhiều người thích đi lấy nước suối đem về vì họ tin tưởng là uống nước từ những dòng suối này sẽ ngăn ngừa và chữa được nhiều thứ bệnh. Đôi khi, không phải chỉ có cư dân ở đây, mà nhiều người ở các tiểu bang lân cận cũng cất công lái xe qua hứng nước chở về nhà.

   Chúng tôi đi dọc theo con đường chính của thành phố suối nước nóng, vòng theo những con hẻm nhỏ loanh quanh vào xem những mạch nước lộ thiên chảy ra từ khe núi. Những mạch nước này rất yếu nên nước chỉ âm ấm chứ không nóng như dòng nước trong bồn cảnh lúc nãy. Chúng tôi đi dần về phía cuối phố và dừng lại chụp hình với hai cái hồ nước to nhất đang bốc khói mịt mờ. Tôi đưa tay vào khoắng thử nước, và phải vội vã rút tay ra vì độ nóng của nước trong hồ có thể làm bỏng tay nếu để hơi lâu. Nhưng tôi cũng nghe nói, tuy nước trong hồ có lúc nóng đến 140 độ F, nhưng những ngày trời lạnh, nhiệt độ của nó hạ xuống chỉ còn mức hơi ấm áp.

   Sau đó chúng tôi đi từ từ trở lại con đường chính để ngắm nghía những căn nhà tắm của Bathhouse Row mà ngày nay đã trở thành khu di tích lịch sử quốc gia. Bathhouse Row có cả thảy tám toà nhà tắm: Hale, Maurice, Buckstaff, Fordyce, Superior, Quapaw, Ozark và Lamar được xây dựng/ khai trương từ những năm 1892 tới 1923, đã trải qua nhiều giai đoạn trùng tu, sửa đổi, và… đóng cửa.

   Hai toà nhà tắm đã bị đóng cửa vĩnh viễn là Hale và Maurice. Superior đã được biến cải thành nhà máy beer duy nhất trên thế giới sử dụng nước suối nóng để làm beer. Còn Ozark thì được sửa sang lại thành Trung Tâm Văn Hoá Ozark, nơi trưng bầy các tác phẩm nghệ thuật.   

   Ngày nay, Lamar đã được sử dụng làm văn phòng cho nhân viên quản lý tài nguyên của công viên, kho lưu trữ, thư viện nghiên cứu và cửa hàng bán đồ lưu niệm. Du khách có thể mua những cuốn sách về lịch sử suối nước nóng, những quà lưu niệm có liên quan đến phòng tắm, chẳng hạn như đá mài, xơ mướp truyền thống, đặc biệt là xà bông, dầu, kem dưỡng da được điều chế bằng nước suối. Và nếu thích, du khách cũng có thể nếm thử những món nước giải khát hay café được nấu bằng nước suối nóng. 

   Nhà tắm Fordyce, từng là nhà tắm lớn nhất và đắt nhất trên Bathhouse Row. Ngày xưa, trong thời đại hoàng kim của Bathhouse Row, nó đã có thể cạnh tranh với dịch vụ tắm nước nóng của Châu Âu vì Fordyce cung cấp tất cả các dịch vụ tắm, xông hơi, đấm bóp, trị liệu bằng nước nóng và cơ điện tử. Hiện thời, Fordyce được sử dụng như một bảo tàng lịch sử và là Visitor Information Center, trung tâm cung cấp tin tức, dữ liệu cho du khách.

Fordyce Bathhouse

   Hiện tại chỉ còn lại hai nhà tắm Buckstaff và Quapaw là còn cung cấp dịch vụ tắm nước nóng và massage. Nhưng theo quảng cáo thì tôi thấy Quapaw có phần trội hơn Buckstaff. Khách hàng đến với Quapaw có thể chọn nhiều dịch vụ tắm nước suối nóng khác nhau, từ khu vực hồ tắm chung, đến bồn nước nóng tắm riêng (một mình hay với người thân yêu). Khách hàng cũng có thể thoải     mái ngồi trong cái động đá nhỏ hẹp được xây dựng trên dòng suối nước nóng để thưởng thức kiểu xông hơi tự nhiên của sức nóng từ dòng nước 140 độ đang toả ra và tập trung vào trong động. Các dịch vụ spa như massage, chăm sóc từ da mặt đến toàn thân của Quapaw sẽ giúp khách hàng thêm thư giãn và tươi trẻ.

   Nhân lúc Fordyce Bathhouse Visitor Information Center chưa đóng cửa chúng tôi cũng ghé vào xem, nhìn ngắm những cái phòng tắm nhỏ hẹp, chỉ đủ chỗ chứa một cái bồn tắm kiểu xưa, nhưng cũng có một góc nhỏ để thay quần áo. Sau đó chúng tôi lên lầu xem tranh ảnh lịch sử của một thời hoàng kim… nhà tắm, để thấy thương cảm cho thân phận những người da màu bị chèn ép, kỳ thị, bị tước đoạt đủ mọi thứ quyền, kể cả quyền… đi tắm!  Tôi cũng chịu khó đi hết một vòng phòng triển lãm, đọc tin tức trên những tấm bích chương, trong mấy cái brochure miễn phí, nhờ thế tôi mới biết thêm được ít nhiều về công việc trong những toà nhà tắm.

 Theo tài liệu tôi đọc được thì từ năm 1878 chính phủ liên bang đã bắt đầu cung cấp phòng tắm (bathhouse) miễn phí cho người nghèo tại vùng suối nước nóng này, không phân biệt màu da, nam nữ. Nhưng sau đó vì tin rằng nước suối có thể chữa bệnh, giúp được sức khoẻ nên những người khá giả hơn đã trả tiền để được vào tắm ở bathhouse. Dần dà rồi thì số tiền nhận được từ những người mua vé tắm nước suối đã trở thành một nguồn thu nhập đáng kể nên nhiều nhà kinh doanh đã bắt đầu xây dựng những nhà tắm tiện nghi và độc lập, dành phục vụ khách quen. Khi dịch vụ tắm nước suối nóng đã được nhiều người ưa thích hơn thì những người da màu nghèo khổ đã phải di chuyển đến tắm ở những nhà tắm xa xôi hơn, và chỉ… dành riêng cho họ.

  

Tuy nhiên, những người da màu nghèo khổ này vẫn được phép bước vào những căn nhà tắm dành cho người da trắng dưới danh xưng “nhân viên phục vụ” vì từ khi có “ngành công nghiệp tắm” thì người Mỹ gốc Phi Châu đã trở thành những phần tử lao động quan trọng trong dịch vụ tắm táp này.

   Ban đầu, những nhân viên phục vụ nhà tắm làm đủ mọi thứ việc, từ việc thay quần áo, tắm táp, xoa bóp cho khách hàng, đến cả việc giặt giũ áo choàng khách mặc, cùng chùi rửa sạch sẽ trong, ngoài khu nhà tắm. Sau này chính phủ đã cho sửa đổi lại luật lệ để công việc của nhân viên được nhẹ nhàng hơn. Tuy vậy, những quy luật này bắt buộc nhân viên phục vụ phải qua một kỳ thi sát hạch, họ phải tham dự những lớp học căn bản khoảng hai tuần ở Department of the Interior (về sinh lý, vệ sinh thường thức, và ngay cả cách cấp cứu) trước khi được sắp đặt vào những công việc khác nhau. Hơn thế nữa, với sự giám sát chặt chẽ của ban quản lý, họ phải nỗ lực làm việc nếu muốn duy trì công việc lâu dài.   

   Với quy luật mới thì mỗi dịch vụ được giao phó cho mỗi nhân viên khác nhau. Chẳng hạn như nhân viên thay quần áo chỉ có công việc đưa khách hàng từ phòng đợi vào phòng thay quần áo và khoác lên người khách một cái khăn to, xong đưa khách sang phòng tắm, và lo việc chùi dọn căn phòng. Nơi phòng tắm sẽ có một chuyên viên “tắm”, phục dịch tận tình từ việc giúp khách thư giãn trong nước khoáng cho đến việc hầu tận tay khách ly nước giải khát. Nhân viên chườm nóng có nhiệm vụ “gói, bọc” cơ thể khách hàng trong những bộ khăn lông to ngâm trong nước suối nóng đã được vắt ráo, để giúp khách hàng thoải mái xông hơi trong gói khăn nóng đang ấp ủ. Dịch vụ massage lúc đầu là một phương pháp trị liệu, nay đã được chuyên viên xoa bóp sử dụng thường xuyên để xua tan mệt mỏi của khách hàng. Còn một công việc liên quan đến lãnh vực y tế được giao cho những chuyên viên đặc biệt khác là chuyên viên thuỷ ngân. Những chuyên viên này có nhiệm vụ bôi thoa một loại dầu thuỷ ngân cho khách tắm theo chỉ thị của bác sĩ để điều trị bệnh giang mai. Theo y học thì thuỷ ngân là phương thuốc điều trị hữu hiệu nhất cho bệnh giang mai trước khi Penicillin ra đời.

  

Theo lời giải thích trên tấm bích chương gắn ở gian phòng tắm thì tôi thấy công việc của các chuyên viên “tắm” vất vả hơn những công việc khác nhiều.  Họ phải biết kiểm tra nhiệt độ của nước nóng cho vừa vặn, không thể để cao hơn 98 độ F trước khi đưa khách hàng vào bồn tắm. Họ phải biết chà xát rất nhẹ nhàng, cẩn thận, để không làm trầy xước da hay đụng chạm vào vết thương của khách hàng. Điều tối quan trọng là họ phải biết áp dụng lối tắm tốt nhất đã được thực tập trong hai tuần lễ: “Tất cả những động tác chà xát phải rất nhịp nhàng, được hướng vào trung tâm của trái tim”, nhằm để giúp máu huyết có thể lưu thông một cách dễ dàng hơn.

   Từ dãy nhà tắm đi ra, thay vì đi ngược lại con đường thành phố chúng tôi lại đi theo con đường ngoằn ngoèo sau hai hồ nước lớn, leo thêm khoảng mấy chục bậc thang đá lên công viên Hot Springs, vừa đi tà tà dưới bóng mát những hàng cây vừa ngắm cảnh thành phố nhà tắm nằm bên dưới. Khi chúng tôi ra đến bãi đậu xe trời đã xế chiều. Chúng tôi lên xe trở về nhà Hùng Yến ăn tối rồi nghỉ sớm vì ngày hôm sau, chúng tôi sẽ làm một chuyến viễn du, “vượt biên” sang vùng đất Missouri “thám hiểm”.

** DAY 3

Sáng thứ Sáu, chúng tôi dậy sớm để sửa soạn lên đường.  Chương trình này đã được Hùng chuẩn bị từ trước, chúng tôi sẽ vượt biên giới Arkansas/ Missouri, để đến vùng Eagle Rock nghỉ mát. Hùng đã mướn một cabin ba phòng nằm trước mặt hồ Chain-O-Lakes.  Hai bạn già của chúng tôi đã lo liệu từ thức ăn tới nước uống, và cũng không quên những món ăn chơi dọc đường như chips, kẹo chocolate, khô bò…

  

Thời tiết hôm nay chợt đổi lạnh, trời có vẻ âm u. Chúng tôi vừa lên đến xa lộ là trời lác đác mưa, mưa nhẹ thôi, nhưng mưa suốt quãng đường từ Little Rock lên đến Balanchard Springs Caverns, nơi mà chúng tôi sẽ dừng chân thăm viếng trước khi vượt biên qua Missouri. Yến bảo đây là một hang động đẹp tuyệt vời mà chúng tôi không cần phải đi tìm kiếm ở một chân trời xa lạ nào hết.   

   Hang động Blanchard Springs là một hang động trong rừng quốc gia Ozark-St Francis, thuộc Stone County, nằm phía Đông Bắc của Little Rock, tiểu bang Arkansas. Hang động này được gọi là một hang động “sống”, vì cho tới giờ này thì các thạch nhũ vẫn còn đang phát triển.  Blanchard Springs Caverns có ba chương trình tour du ngoạn hấp dẫn: Dripstone Trail, Discovery Trail và Wild Cave, với mức độ dài, ngắn, khó, dễ khác nhau, và đều được hướng bởi các nhân viên kiểm lâm. 

   Cái tour ngắn nhất, dễ nhất và mở cửa suốt năm, mà ai cũng có thể đi được là Tour Dripstone Trail. Discovery Trail Tour chỉ mở cửa vào mùa hè.  Wild Cave Tour dài sáu tiếng đồng hồ, và phải ghi danh trước. Tour này chỉ dành cho những người ham thích mạo hiểm, không sợ tối tăm, dơ bẩn. 

   Khi chúng tôi đến nơi đã hơn 11 giờ rồi. Quầy bán vé chỉ còn vé cho tour Dripstone vào lúc 12:50 chiều. Cái Wild Cave Tour thì đã bắt đầu từ 9:30 sáng. Cũng tốt thôi vì chúng tôi cũng không đủ điều kiện “ắt có và đủ” để làm một chuyến thám du. 

   Trong lúc chờ đợi tới giờ đi du ngoạn, chúng tôi lấy bánh mì kẹp chả đã làm sẵn ở nhà đem theo ra ăn. Ăn xong bữa trưa rồi cũng chưa tới giờ “tham quan” nên chúng tôi chạy qua căn phòng triển lãm bên cạnh xem hình ảnh, tài liệu và đoạn phim nhỏ chiếu về thế giới ẩn mình trong lòng đất. 

   Qua những tài liệu tôi đọc được thì nếu muốn tìm hiểu kỹ càng về Blanchard Springs Caverns du khách nên tham dự cả ba tour du ngoạn. Tuy nhiên, cái tour Wild Cave đòi hỏi người tham dự phải có sức khoẻ tốt, vì phải leo lên những bờ dốc rất cao, trèo qua những ngách đá, bò dưới những trần hang thấp, và lội qua những đường mòn đất sét trơn trượt của phần hang động chưa được phát triển.  Người tham dự phải trang bị những trang phục như thợ hầm mỏ, nào là mũ cứng có gắn đèn soi đường, quần yếm, găng tay, giầy bốt để bảo vệ mắt cá chân, v.v… 

   Cái tour dễ hơn tour Wild Cave là Discovery Trail Tour, chỉ khoảng hai tiếng đồng hồ.  Đây là tour thăm viếng tầng giữa của hang động, cách mặt đất khoảng 365 feet. Tuy là một con đường mòn tuyệt vời dẫn đến dòng suối ngầm xuất phát từ Blanchard Springs nhưng vì phải đi bộ rất lâu, còn phải trèo lên khoảng 700 bậc thang, nên những người có sức khoẻ không hoàn hảo, hoặc có bịnh tim, hay khó thở đã được khuyến cáo là hãy tránh cái tour này.   

   Cái tour dễ nhất là Dripstone Trail, chỉ dài khoảng một tiếng đồng hồ, dẫn qua phần cao nhất của hang động. Đây là một con đường mòn rộng rãi, tuy có hơi dốc nhưng đi được hai chiều nên du khách ngồi xe lăn, hay những người lớn tuổi có thể đi lại dễ dàng.      

   Chưa tới giờ mở cửa mà du khách đã bắt đầu tụ họp trước lối vào hang động. Chúng tôi cũng bắt chước đến xếp hàng. Có khoảng chừng 20 người trong cái tour chúng tôi tham dự. Đúng 12:50, hai nhân viên kiểm lâm đến soát vé, rồi chỉ dẫn cặn kẽ những điều lệ căn bản như không được vượt qua rào cản, không đến quá gần và chạm tay vào thạch nhũ, vì chất nhờn và mồ hôi tay sẽ làm hại đến những cái thạch nhũ đang trong quá trình tăng trưởng. Sau đó tour chúng tôi chia làm hai nhóm, theo hai hướng dẫn viên vào thang máy để vào vùng thạch động. 

Theo những con đường mòn ngoằn ngoèo, rộng lớn được tráng xi măng, chúng tôi thong thả đi qua hai gian phòng hang động lớn, được chiếu đèn sáng choang và đẹp mắt để nhìn ngắm những thạch nhũ và măng đá đủ màu, đủ hình dáng, được tạo thành bởi con suối ngầm gần đó.

 Tuy không nhìn thấy được con suối, nhưng chúng tôi cũng có thể nghe được tiếng nước nhỏ róc rách từ trên trần hang. Mặc dầu mang tiếng cái tour ngắn và dễ nhất, nhưng những con đường mòn của Dripstone Trail cũng có một độ dốc đáng kể. Tuy thế, nhờ có những thành lan can ở hai bên đường làm tay vịn nên du khách có thể đi lại thoải mái hơn. Còn những người đi bằng xe lăn chắc phải cần đến sự hỗ trợ mạnh mẽ của những người đi theo chăm sóc.

   Chúng tôi dừng chân lại ở một khoảng sân vuông có những băng ghế dài, nghỉ chân, ngắm bức tranh tuyệt tác được tạc bằng những giọt nước giàu khoáng chất trên vách tường trước mặt và nghe một nhân viên kiểm lâm ca ngợi về cách xếp đặt những ngọn đèn đủ màu chiếu sáng trong thạch động. Theo lời người này thì những ngọn đèn trong thạch động đã được thiết kế bởi một chuyên gia ánh sáng nổi tiếng, chuyên thiết kế cho những nhà hát nhạc kịch tầm cỡ. Thoạt đầu chuyên gia này chỉ dự trù có bốn tháng để thiết kế đèn màu thôi, nhưng không ngờ anh phải mất đến hơn sáu tháng để hoàn hành công việc, và kết quả là những bức tranh đá trong hang động trở nên lộng lẫy hơn nhờ có một giàn ánh sáng tuyệt vời. 

   Rời Blanchard Springs Caverns, chúng tôi trực chỉ Eagles Rock, Missouri, nơi mà Hùng đã thuê sẵn một cabin có ba phòng. Vừa lái xe Hùng vừa giải thích lý do mà chúng tôi phải tạm trú ở miền biên giới Missouri, trong khi tất cả những thắng cảnh chúng tôi sẽ viếng thăm đều nằm bên tiểu bang Arkansas. Khi lên mạng tìm phòng trọ, Hùng đã cảm thấy mến yêu khung cảnh yên tĩnh của những căn nhà ven hồ Chain-O-Lakes. Hơn nữa, giá cả nhà trọ ở Eagles Rock cũng nhẹ nhàng hơn ở vùng thị tứ Eureka Springs nhiều.  

   Chúng tôi đến nơi thì trời cũng vừa sẫm tối. Con đường làng ngoằn ngoèo đưa chúng tôi đến một  vùng nhà nho nhỏ ven hồ. Cái làng quê này có những căn nhà trệt như những căn nhà tiền chế, nằm riêng biệt, cách nhau một khoảnh sân con. Phía trước căn nhà nào cũng có một khoảng trống có mái hiên che, chắc là chỗ đậu xe. Duy có căn nhà chúng tôi sắp dừng chân ngơi nghỉ đây lại không có chỗ để xe, thay vào đó là một cái nhà kho to đùng, làm Hùng phải đậu xe ở phía ngoài, ven đường. 

   Vừa mở cửa bước vào chúng tôi đã thấy yêu thích cái địa điểm nhà nghỉ mát này ngay, vì từ khung cửa kính phòng ăn và phòng khách chúng tôi có thể nhìn thấy mặt nước mênh mông, phẳng lặng. Chỉ phiền một nỗi là căn nhà này chỉ có hai phòng, một căn phòng lớn có cái giường queen size nệm nhún kiểu Hong Kong, và một căn phòng dài sọc được ngăn đôi bởi cái tủ để quần áo có hai cái giường full size đơn giản. Vậy mà trong quảng cáo, chủ nhà đã nói rõ ba phòng riêng biệt.  Hùng bảo để sau khi về anh sẽ gửi thư than phiền với chủ nhà.

   Chúng tôi dành căn phòng lớn cho Hùng, tour guide kiêm tài xế, để Hùng có thể nghỉ ngơi lấy sức “làm việc” cho những ngày rong chơi còn lại. Tôi và chị Loan chia nhau hai cái giường đôi nhỏ.  Tội nghiệp anh Đắc, vì chiều “dài” có hơi quá khổ nên anh đành phải ôm gối ra ngủ ở salon phòng khách. 

** DAY 4

Sáng hôm sau, thứ Bẩy, chúng tôi dậy sớm, ra chụp hình với cảnh ban mai sương sáng mờ ảo trước mặt hồ trước khi vào nấu café, ăn sáng với bánh mì sừng bò, trái cây mang theo, rồi sửa soạn đi chơi. Hôm nay, Hùng sẽ vượt biên trở lại đất nhà, qua vùng Eureka Springs ngoạn cảnh.

Hùng nói Eureka Springs là nơi có rất nhiều lễ hội, được tổ chức vào những thời điểm khác nhau. Mùa hè ở nơi này có lễ hội về nghệ thuật, nếu chúng tôi ở lại thêm ít lâu nữa thì chúng tôi sẽ tha hồ ăn nhậu trong lễ hội ẩm thực bắt đầu vào tháng 11, còn nếu muốn tìm hiểu xem người Eureka Springs vui chơi trong ngày lễ Mardi Gras kiểu “Eureka Springs” như thế nào thì chúng tôi phải trở lại nơi này vào tháng Hai.

   Nơi đầu tiên chúng tôi đến viếng sáng hôm nay là nhà thờ kính Thorncrown Chapel, một nhà nguyện nằm trong một khu rừng yên tĩnh, xinh đẹp và được xem là một trong những ngôi nhà thờ đẹp nhất của nước Mỹ. Nó đã được xây dựng năm 1980 bởi kiến trúc sư E. Fay Jones, dựa theo hình ảnh của những ngôi trường miền thôn dã. Đây cũng là một địa điểm thu hút rất nhiều du khách đến thăm viếng vùng Eureka Springs và cũng là một nơi lý tưởng để tổ chức lễ cưới. Theo tài liệu trong cuốn brochure phát không cho du khách thì ngôi nhà thờ này được kiến trúc với những khung gỗ cao đến 48 feet, có khoảng 425 cái cửa sổ và hơn 6000 square feet kính trong suốt. 

  

Hôm nay không phải Chủ Nhật nên chúng tôi không có cơ hội tham dự thánh lễ, thành thử chúng tôi chỉ đi vòng quanh khuôn viên nhà thờ chụp hình rồi bước vào bên trong khung kính khổng lồ để chiêm ngưỡng cái kiến trúc lạ lẫm có một không hai này. Nghe nói, tốn phí để trùng tu, duy trì cho vẻ đẹp khác biệt này cũng không phải nhỏ, nên mặc dù thắng cảnh này là một nơi viếng thăm miễn phí, nhưng khi bước ra thì du khách đều không quên gửi lại ít nhiều gọi là… góp một bàn tay.

   Theo chương trình Hùng đã soạn thì chúng tôi sẽ ghé ngang trạm xe lửa Eureka Springs để xem chúng tôi có muốn đi du ngoạn ngắm cảnh bằng xe lửa và thưởng thức những món đặc sản của địa phương hay không. Cứ như lời quảng cáo của các trung tâm du lịch thì đây là một bữa ăn khó quên trên tuyến đường xe lửa Eureka Springs và Tuyến Đường Sắt miền Bắc Arkansas (Eureka Springs & North Arkansas Railway).  Những nhà hàng du ngoạn này chỉ mở cửa từ tháng 5 tới tháng 10, vào bốn ngày thứ Ba, thứ Tư, thứ Sáu và thứ Bẩy. Có hai bữa ăn cho du khách chọn lựa:  bữa trưa chừng một tiếng rưỡi và bữa chiều khoảng chừng hai tiếng. Những chuyến du ngoạn này sẽ đưa du khách đi qua những khung cảnh đẹp như tranh vẽ của núi rừng Arkansas, cùng lúc được thưởng thức những món ăn ngon lạ tuỳ thuộc mỗi mùa.

   Nhưng khi đến nơi, đọc qua chương trình chúng tôi cảm thấy chuyến du ngoạn này cũng không mấy gì hấp dẫn, nên chúng tôi chỉ đi vòng vòng chụp hình với cái đầu tầu và bộ máy nguyên thuỷ đang được trưng bày trong sân ga, chụp hình với cái bảng to tướng “Welcome to Eureka Springs” trong góc đường rồi lại tiếp tục đi. 

  Rời trạm xe lửa Eureka Springs, Hùng cho xe chạy đến The Great Passion Play. Vừa đến nơi trời lại lất phất mưa, nên chúng tôi chỉ vào mua vé cho buổi trình diễn tối nay rồi trở ra phố ăn trưa rồi về nhà trọ nghỉ ngơi. 

   Buổi chiều, khi trời bắt đầu hết âm u chúng tôi lại trực chỉ The Great Passion Play. Tưởng đến sớm có chỗ đậu xe gần nhưng không ngờ nhiều người còn đến trước chúng tôi nên Hùng phải cho xe vào tận sân trong. Cũng tiện vì chỗ này gần với bức tượng Christ of the Ozarks và Berlin Wall, nhưng lúc về tài xế sẽ hơi chật vật với dòng xe cộ đông đảo đây.

   Từ chỗ đậu xe chúng tôi đi bộ vào đài tưởng niệm bức tường Bá Linh. Đây là một mảnh tàn dư đặc biệt mà The Great Passion Play có được từ sau ngày Berlin Wall bị phá vỡ.  Nghe nói mảnh tường khoảng 10 feet vuông này đã được chở từ Berlin qua tới Bremen, Đức Quốc, rồi được vận chuyển bằng đường thuỷ sang tới Port of Houston (Texas), trước khi được chuyên chở bằng đường bộ đến Eureka Springs. The Great Passion Play đã muốn dựng lên đài tưởng niệm này với mục đích tôn vinh tinh thần của tất cả những người đã dám liều mạng để thực hành đức tin Kitô giáo: “Mặc dù tôi đi bộ qua thung lũng tối, tôi sẽ không sợ hãi.” (Psalm the 23rd).  Dòng chữ này đã được một người Đông Đức viết rõ ràng trên mảnh tàn dư. 

   Sau khi chụp hình với đài tưởng niệm Berlin Wall xong chúng tôi theo chân du khách vào chiêm ngưỡng bức tượng Chúa Jesus cao thứ ba trên thế giới đã được ông Gerald L. K. Smith cho xây dựng. Bức tượng này cao 67 feet, chỉ thấp hơn hai bức tượng ở Poland và Bazil.  Bức tượng Christ of the Ozarks được dựng trên đỉnh núi, hai tay giang rộng như đang ban phước lành cho thị trấn Eureka Springs ở bên dưới. 

   Rời Christ of the Ozarks chúng tôi đi ngược về hướng Market Place để xem qua cho biết. Market Place là một khu đất rộng, nằm bên trong một bức tường thành, bao gồm nhiều khu vực khác nhau.   Chúng tôi đến nơi vừa vặn lúc David the Shepherd sắp sửa biểu diễn nhưng các lối vào đã chật cứng với người xem nên chúng tôi vòng sang công viên Noah’s Ark để nhìn ngắm mấy chú cừu, dê, chó, llama, ngựa, gà, vịt, thỏ, v.v… Ngay bên ngoài công viên Noah’s Ark là một cửa hàng nhỏ bán mấy sợi dây chuỗi xâu bằng hột thuỷ tinh, có hai cô bé bán hàng xinh xinh trong bộ áo váy làng quê đon đả chào mời. Cửa hàng này chắc chỉ được dựng làm cảnh thôi, chứ tôi có thấy khách hàng nào mua bán gì đâu, vì cách đó không xa tôi thấy có một quầy hàng bán nữ trang, với những bộ dây đeo, bông tai bằng vàng, đá thật, đủ màu. Chúng tôi không quên ghé qua gian hàng nặn tượng để nhìn nhà điêu khắc tạo hình tượng bán thân của Chúa Jesus bằng đất sét. Vừa hoàn thành tác phẩm của mình anh vừa nhắc nhở mọi người là hãy tôn vinh Chúa mỗi ngày qua hình tượng của Ngài. Nơi cuối cùng chúng tôi dừng chân ghé thăm là gian hàng đồ gốm. Ở gian hàng này chúng tôi được nghe người thợ làm đồ gốm nói nhiều hơn về Chúa, về những biểu tượng tượng trưng cho công việc của Ngài. Ông ta ví Chúa như người thợ làm đồ gốm, còn chúng ta là đất sét được nhào nặn dưới tay Ngài.  

   Từ Market Place chúng tôi đi sang đường ghé vào gift shop “window shopping”, nhìn thôi chứ không mua sắm gì. Ở gift shop ra vẫn chưa tới giờ “xuống rạp” nên chúng tôi vào Sacred Art Museum ngắm tranh sơn dầu của hoạ sĩ nổi tiếng Jack E. Dawson. Tranh ông vẽ đẹp thật, nhưng giá tiền không mềm mại lắm. Chúng tôi chỉ đi vòng vòng nhìn ngắm. Có lẽ bức tranh The Passion Tree là bức tranh đắc ý, nên tôi thấy ông cứ đứng quanh quẩn gần nó để sẵn sàng giải thích cho người thưởng lãm. Tôi cũng lắng tai nghe dù chữ hiểu, chữ không. Theo cái trí nhớ lờ mờ và sự hiểu biết của tôi thì cái bức tranh này kể lại câu chuyện cuộc hành trình theo Kinh Thánh qua 25 hình ảnh khác nhau trên mỗi quả cầu trang trí. Mỗi vật trang trí minh hoạ một sự kiện trong lịch sử. Trong The Passion Tree có vẽ những người đang đi trong bóng tối, và một số người mang theo ánh sáng.  Theo lời ông Dawson thì Chúa Jesus là ánh sáng, và Ngài đang chia sẻ ánh sáng của mình với tất cả mọi người…  Tôi và Yến bị thu hút với tấm “The Passion Tree” linh động ở trên tường, nên cứ đứng ngắm hoài cho đến lúc ông chồng tôi bảo sắp đến giờ rạp hát mở cửa chúng tôi mới bước ra.   Nhưng trước khi dời bước chúng tôi không quên ghé lại quầy cashier “đóng góp”.  Yến mua mấy cái post cards nhỏ để dành, còn tôi mua tấm tranh vẽ The Passion Tree thu gọn trên vài trang giấy đem về từ từ tìm hiểu. Người hoạ sĩ cũng không quên ký tên vào trang cuối cùng của bức tranh, dưới hàng chữ “May God Bless You”, cho tôi làm kỷ niệm.  

   Chúng tôi theo chân người đi dần xuống những bậc thang xi măng vào tìm chỗ ngồi. Vé không có số, nên ai muốn ngồi đâu thì ngồi, vì ở chỗ ngồi nào khán giả cũng nhìn thấy được toàn cảnh sân khấu rộng lớn, sáng choang ánh đèn. Đây là một vở kịch vĩ đại nhất được biểu diễn ở sân khấu ngoài trời. Nghe nói có đến 150 diễn viên và rất nhiều động vật đã dự phần vào buổi trình diễn này.   Theo Randall, giám đốc của The Passion Play, thì năm nay The Passion Play đã có được 50 năm kỷ niệm, và đã có gần 8 triệu người đến Eureka để thưởng thức vở kịch Phục Sinh truyền thống, miêu tả khổ nạn của Chúa Jesus, từ những thử thách, đau khổ cùng đương đầu với cái chết.   

   Mới tháng 10 mà trời Arkansas lạnh ngắt.  Cho dù đã chuẩn bị kỹ càng với áo jacket dầy, khăn len đội đầu nhưng vì rạp hát ngoài trời trống trơn nên tôi cũng run rẩy vì gió lộng bốn bề thổi tới. Hùng đã phải đi ra ngoài phòng vé mượn mấy cái chăn đem về cho chúng tôi đắp đỡ, che chân. Vậy mà mấy người đóng kịch thật hay, nhất là người đóng vai Đức Chúa Jesus, không hiểu sao anh có thể chịu nổi cái giá lạnh của trời đêm Arkansas trong manh áo trắng mỏng manh, lại còn bị rách tả tơi. 

   Vừa tan vở kịch thì ai nấy cũng đều vội vã bước ra khỏi rạp để mong có thể ra khỏi bãi đậu xe nhanh chóng. Vì đậu xe ở sân trong nên chúng tôi bình thản ngồi ủ ấm trong xe để đợi tới lượt mình. Chừng về gần tới nhà trọ thì ai nấy cũng đều cảm thấy đói nên Hùng vòng xe trở lại McDonald’s mua mấy cái burger, khoai chiên về để ăn khuya. 

** DAY 5

Hôm nay, Chủ Nhật, chúng tôi sẽ giã từ căn nhà ven hồ ở Missouri để trở lại thành phố “Hòn Đá Nhỏ”. Con đường hôm nay hơi dài, nhưng chúng tôi chỉ chạy thẳng về nhà nên chúng tôi cũng không hấp tấp. Trước khi ra về, chúng tôi đã nán lại chụp thêm với căn nhà ven hồ vài tấm ảnh.   Hùng còn cho xe chạy một vòng trong khu vực để xem những căn nhà gần đó khang trang tới đâu.  Chừng ra đến biên giới hai tiểu bang, chúng tôi không quên ngừng xe lại để chụp hình với tấm biển “Welcome to Arkansas – The Natural State”.  Về tới địa phận Little Rock trời vẫn còn sáng lắm, nên Hùng chở chúng tôi đi viếng chùa Bát Nhã, để biết qua cảnh chùa vùng anh ở, rồi chúng tôi trở ra phố ăn phở Thành Mỹ trước khi về nhà.

** DAY 6

Ở đâu cũng không bằng nhà mình, nên sau khi về đến nơi, ngủ một đêm thẳng giấc chúng tôi thấy khoẻ làm sao. Sáng thứ Hai, chúng tôi thong thả ăn sáng, uống café rồi đi chơi tiếp. Nơi chúng tôi đến ngày hôm nay là Công Viên Tiểu Bang Petit Jean (Petit Jean State Park), nằm ở phía Tây Bắc của Little Rock, trong quận Conway, giữa dẫy núi Ouachita và cao nguyên Ozark. Công viên này nổi tiếng với cảnh đẹp tự nhiên, có thác nước, nhiều hang động, hẻm núi, rất thích hợp cho những buổi dạo chơi ngoạn cảnh. Công viên này còn có một cái hồ nhân tạo, bên bờ hồ có một cái quán nhỏ với những dịch vụ cho mướn thuyền, vật dụng câu cá, v.v… rất tiện lợi cho những người thích bắt cá, chèo thuyền. Ngoài ra, công viên cũng có nhiều cabin và đất cắm trại dành cho du khách nào muốn ở lại lâu hơn để có thể hoà mình vào cảnh đẹp thiên nhiên.   

  
Trước khi đi vòng theo con đường xi măng có lan can dẫn ra mấy cái viewpoint ngắm cảnh, chúng tôi dừng lại ở tấm bảng gắn ngay bên cổng vào để đọc mấy lời giải thích tại sao cái công viên này được mang tên Petit Jean. Sau này tìm hiểu thêm thì tôi mới biết được công viên Petit Jean đã có một huyền thoại tình yêu lãng mạn, nó đã được đặt theo tên của ngọn núi mà một người phụ nữ Pháp sống vào thế kỷ thứ 18 đã chọn làm nơi an nghỉ cuối cùng. Chuyện kể rằng Adrienne Dumont là một người phụ nữ trẻ ở Paris. Sau khi biết được người yêu của mình, Chavet, sẽ tham gia vào cuộc thám hiểm vùng đất hoang dã Louisiana, cô đã cắt tóc, cải trang thành một chàng trai trẻ, tìm việc làm trên tàu thuỷ để có cơ hội cùng đi với người yêu đến vùng đất mới. Nhưng khi vừa đặt chân đến vùng núi này cô đã bị một căn bệnh không tên quật ngã. Trước lúc lâm chung, cô đã tiết lộ thân phận của mình cho Chavet biết, nói lời xin lỗi người yêu, và ước nguyện được chôn cất ở tại đây. Cô được nằm yên bên góc núi, trong một nấm mộ rất đơn sơ, dưới cái tên mà cô đã được mọi người biết đến là “Petit Jean” hay “Little John”. 

   Tuy công viên có nhiều con đường mòn dẫn tới nhiều viewpoint để ngắm cảnh nhưng vì không có nhiều thì giờ và cũng không chuẩn bị cho buổi ngao du sơn thuỷ nên chúng tôi chỉ đi vòng vòng dạo chơi trên đỉnh núi, chụp ít tấm hình với phong cảnh hùng vĩ của núi rừng làm kỷ niệm. Chúng tôi còn dám cả gan leo ra ngoài mỏm đá to trong một góc công viên, gần Stout’s Point để cố lấy được hình ảnh của thung lũng Ada và con sông Arkansas đang lờ lững chảy phía xa xa. Chúng tôi cũng không quên ghé ngang phần mộ của Petit Jean, gửi một lời chào ngưỡng mộ đến người con gái đã hết lòng sống chết với tình yêu. 

   Rời Petit Jean Park, Hùng lái xe đưa chúng tôi đi vòng qua một con đường khác, đến Cedar Falls Overlook để ngắm nhìn cái thác nước cao 95 feet này. Nhưng ở nơi này nhiều cây cối quá, và hàng rào cản cũng khá cao nên chúng tôi khó có thể chụp được toàn cảnh của Cedar Falls. Nghe nói, có nhiều con đường mòn đưa đến chiêm ngưỡng Cedar Falls một cách hoàn hảo hơn, nhưng con đường nào cũng dài và cũng rất gập ghềnh, thành thử chúng tôi cũng chỉ đứng nhìn quanh quất một lúc rồi đi.

   Hôm nay, chúng tôi sẽ ăn trưa ở Mather Lodge Restaurant, một nhà hàng ở lưng chừng núi Petit Jean, cái nhà hàng có những khung cửa kính trong suốt, vừa ăn khách vừa được thưởng thức một khung cảnh tuyệt vời. Tuy Hùng đã báo trước là những món ăn ở nhà hàng này chỉ tàm tạm thôi, nhưng chúng tôi thấy món nào cũng đậm đà, ngon miệng, không biết có phải vì cảnh đẹp hay không? Dùng bữa trưa xong, chúng tôi ra ngoài sân ngắm cảnh. Ở phía ngoài này, không bị vướng víu mấy khung cửa sổ, nên chúng tôi có thể nhìn thấy cảnh núi rừng bao quát hơn và nghe được tiếng nước đổ từ Cedar Falls ở gần đó.

Nhưng nếu muốn nhìn thấy thác nước rõ ràng hơn chúng tôi phải đi theo Cedar Falls Trail, nằm ngay bên hông nhà hàng để đi xuống phần hạ lưu của thác. Theo lời “quảng cáo” ghi ở trên tấm bảng phía đầu trail thì con đường mòn này dài khoảng hai miles thôi, ước tính thời gian đi về cũng khoảng chừng hơn tiếng đồng hồ, và

con đường này cũng không “đáng ngại lắm” nếu du khách muốn đi bộ xuống tận nơi nhìn thác nước. Tôi và anh Đắc đi thử một đoạn, thoạt đầu con đường cũng rộng rãi và hơi bằng phẳng, nhưng đi thêm một đoạn nữa thì chúng tôi thấy là không dễ dàng như lời quảng cáo, vì con đường nhỏ hẳn lại, và rất là ẩm ướt, trơn trượt, cộng thêm có nhiều mỏm đá lồi lõm nằm ngang dọc trên lối đi chúng tôi bắt buộc phải trèo qua.  Tôi và anh Đắc nhìn nhau, rồi đồng ý là chúng tôi nên quay trở lại. 

** DAY 7

Sáng thứ Ba, chúng tôi đi ra phố ăn sáng, nhân thể xem cái tiệm Craker & Barrel ở Little Rock có gì hấp dẫn. Ăn xong, chúng tôi đi ra shop coi cho biết vì giờ này tiệm đã bắt đầu bày bán quà Noel, đồ trưng cho mùa lễ Giáng Sinh rồi.

 Đi vòng vòng chung quanh shop một hồi tôi chỉ chấm được hai cái lọ đựng tiêu muối bằng sành, hình con gấu, nhìn cũng dễ thương, chắc không phải là “Made in USA”.  Nhưng cũng tốt thôi, vì chúng tôi đã góp một bàn tay, giúp cho nền kinh tế của xứ sở “A Con Sò” thêm… “giàu mạnh”.

   Chúng tôi đi từ từ ra chỗ đậu xe. Hùng đang suy nghĩ xem sẽ đi chỗ nào chơi thì chị Loan chợt nhắc tới cái Cối Xay Cổ (The Old Mill), nơi được quảng cáo là chỗ quay cảnh đầu tiên của bộ phim Cuốn Theo Chiều Gió.  Thế là Hùng cho xe trực chỉ đến Old Mill.

   Thật tình, tôi chỉ nhớ mang máng cái hình ảnh Old Mill trong cảnh đầu tiên của bộ phim Gone With the Wind, vì nó chỉ được chiếu qua nhanh như chớp, nhưng hôm nay khi vừa nhìn thấy khung cảnh yên bình của Old Mill tôi đã thấy mê say.

   Old Mill là một căn nhà đá hai tầng, nằm giữa một khu rừng với hoa cỏ muôn màu muôn sắc bao quanh. Muốn vào trong căn nhà đá đó chúng tôi phải đi qua một cái cầu gỗ cong cong bắc ngang một hồ nước trong. Ngõ sau căn nhà đá là những bậc thang đá, dẫn qua một khu vườn khác, cũng có những chiếc cầu đá nối liền hai bờ hồ. Chúng được điêu khắc với những hình thể lạ lẫm chẳng giống nhau, có cái như khúc cây to ngã đổ trên dòng nước, lại có cây cầu khác nhỏ hơn nhưng cong vòng với giây leo đan nhau chằng chịt, có cái mang một hình thể kỳ dị như một hang động có nhiều bậc thang, ngõ ngách. Nhưng đằng sau những cây cầu đá đó là một cái phông cảnh tuyệt đẹp, với trời mây, cây lá in hình dưới ánh nước hồ xanh. Phải nói đây là một bức tranh vẽ tuyệt vời mà tôi không thể nào diễn tả nổi. 

  
Theo tài liệu ghi chép trên tấm bảng dựng ngoài hàng rào thì cái cối xay cổ này được ông Justin Matthews cho xây dựng vào năm 1933. Đây là bản sao của một nhà máy xay lúa mì chạy bằng thuỷ điện đã bị bỏ hoang. Dụng ý của Matthews là dùng tàn tích cũ này để gợi nhớ đến hoạt động của những người tiên phong đến lập nghiệp ở Arkansas một thời xưa. Tác phẩm này Matthews cũng dành để tưởng niệm người bạn thân thiết, ông Thomas R. Pugh, cư dân của vùng Portland, Arkansas, người đã từng hợp tác với ông trong công việc kinh doanh. Matthews cũng muốn dùng biểu tượng cái cối xay cổ với những vòng bánh xe nước xoay không ngừng nghỉ để tôn vinh nghị lực kiên trì của người bạn thiết. Matthews đã chọn kiến trúc sư Frank Carmean để thiết kế Old Mill và điêu khắc gia Dionicio Rodriguez để nhận lãnh phần trách nhiệm trang trí công viên thật là chi tiết. 

Dionicio đã dùng sở trường của mình là “biến xi măng thành gỗ” để kiến thiết nên một Old Mill rất cổ của những năm 1800. Ông đã tạo ra những tác phẩm thật là sắc sảo như những gốc cây với vỏ bị tróc, bong, có lỗ sâu đục, và dấu hiệu của sự phân rã, hay những thân cây với nhánh dây leo đan xen cành với nhau. Nếu không tinh ý thì chắc ít người có thể nhận biết chúng không phải là gỗ thật.

  

Ngày thường mà công viên cũng nườm nượp những người, chắc họ cũng là du khách như chúng tôi, tò mò ghé đến viếng thăm cái Cối Xay Cổ nổi tiếng này. Đây là một thắng cảnh của vùng North Little Rock mà du khách nào đến Arkansas đều không thể bỏ quên, vì ngoài khung cảnh thần tiên để chụp hình kỷ niệm, nơi đây còn là một di tích lịch sử nổi tiếng của quốc gia.

   Chúng tôi rời Old Mill, đi ăn tối rồi trở về nhà nghỉ sớm. Đêm nay chúng tôi phải thu dọn hành trang để ngày mai lên đường trở về “quê cũ”, giã từ những ngày rong chơi trên Xứ Sở Thiên Nhiên (The Natural State). 

*

Vợ chồng Hùng Yến đưa chúng tôi ra đến tận cổng cách ly. Ôm nhau giã từ, hẹn lại ngày sau rồi hai vợ chồng tôi và anh chị Đắc Loan đi từ từ vào phòng đợi. Trong lúc ngồi chờ giờ lên máy bay chúng tôi mở hộp xôi trắng với chả lụa Yến đã gói cho chúng tôi ra ăn trưa, vì những chuyến máy bay nội địa ngắn ngủi này chỉ cho chúng tôi uống nước và ăn đậu phộng. 

   Bà chị đồng môn của tôi vừa ăn vừa nuối tiếc vì ngày vui qua mau quá, vậy mà trước ngày đi chị đã hỏi tôi là “Arkansas có gì chơi hả em?” Tôi đã ậm ừ cho qua vì tôi cũng chưa hề đến viếng thăm quê Tổng Thống, tôi chỉ biết là ở xứ “A Con Sò” đó có “vợ chồng con Yến”, bạn tôi. 

   Tháng Tám năm nay, Hùng gửi cho chúng tôi một cái link tin tức của CNN, nói về chuyện một người phụ nữ ở Texas sang Little Rock chơi, và cũng cùng gia đình đi đào kim cương ở Crater of Diamonds State Park. Sau cả tiếng đồng hồ đào xới không có kết quả cô đã chán nản tìm một bờ đất có bóng mát ngồi nghỉ mệt, rồi mở YouTube lên để coi cách nào có thể tìm được kim cương. Lúc liếc sang xem con trẻ đang làm gì thì cô đã vui sướng reo hò ầm ĩ khi bất ngờ nhìn thấy một viên kim cương màu vàng lóng lánh trong đám sỏi, không xa chỗ cô ngồi. Viên kim cương này đã được giám định to đến 3.72 carat. Cũng theo bản tin thì mấy ngày hôm trước vùng Murfreesboro này đã có một trận mưa dông, có thể là trong khi di chuyển dòng nước đã lũ lượt kéo theo bao nhiêu sạn sỏi (cùng kim cương, đá quý) từ các triền đất cao xuống miền đất thấp. Hùng nói, lần sau chúng tôi nên bay đến thăm miền quê Tổng Thống sau một cơn… bão lớn để… tìm kiếm kim cương.

Chị Loan đã email lại trả lời Hùng là chúng tôi đã tìm được một viên kim cương lớn nhất ở Arkansas – một tình bạn ấm áp, chân thành. Viên kim cương này, chúng tôi sẽ giữ mãi trong tim. 

Clinton House Museum – Fayetteville

Sedona-Arizona

ARIZONA: SEDONA, ĐẤT THẦN KỲ.

Nguyễn Xuân Quang.

Sedona, là một tỉnh nhỏ ở Arizona, nằm dựa lưng vào dẫy núi Đá Đỏ (Red Rock) có con lạch Cây Sồi (Oak Creek) chảy qua. Cũng giống như những tỉnh lẻ khác nằm cạnh những Công Viên Quốc Gia Đá Đỏ ở Arizona, Colorado, New Mexico, Utah, Sedona có một cảnh quan thiên nhiên thần tiên, một nơi tĩnh dưỡng lý tưởng.

Tuy nhiên Sedona còn có một sức thu hút khác, một tiếng gọi tâm linh khác đã khiến Sedona trở thành miền đất Thần (magic) và Kỳ bí (mystic). Hàng năm có tới bốn triệu du khách tới đây viếng thăm.

Sedona, Đất Thần Kỳ này là một trung tâm của nuôi dưỡng, bồi dưỡng tâm linh nhờ có cái lực gọi là Vortex.

Votex là Gì?

Nói chung, vortex là một luồng năng lực chuyển động xoáy tròn hình phễu như xoáy nước, gió lốc (whirlwinds), bão lốc xoáy (tornadoes) và ngay cả dòng điện lực, từ lực, điện-từ lực.

Vortex (ở Sedona số nhiều viết là vortexes chứ không viết là vortices) ở Sedona cho là những cuốn xoáy năng lực tinh tế mang tính tâm linh phát ra từ mặt đất.

Có thật sự vortex có ở Sedona không?

Nhìn dưới diện khoa học vortex là năng lực xoáy điện-từ (electro-magnetism). Vortex này có thể khám phá và đo lường bằng những dụng cụ thăm dò gọi là từ kế (magnetometer) và cho rằng có thể nhận xét qua cảnh quan vùng đất có vortex như cây cỏ mọc có thân, cành, cuộn xoắn…

Sedona đo thấy có địa từ bất thường (Geomagnetic Anomalies) cao tột đỉnh so với các vùng khác.

Mầu trắng hồng trên bản đồ cho thấy Sedona có địa từ bất thường cao nhất trong vùng (nguồn: USGS North American Magnetic Anomaly website).

Vortex ở Sedona không phải chỉ có gần đây, dĩ nhiên đã có từ ngàn xưa. Có những bằng chứng thổ dân ở đây cũng đã từng nhận biết được cái mà hiện nay gọi là vortex. Sedona là vùng Đất Thiêng của nhiều bộ tộc thổ dân sống ở đây. Thổ dân Yavapai cho đây là nơi sinh của Mẹ Tổ, Người Đàn Bà Nguyên Khởi. Vì thế nơi đây là đất nhiều bộ tộc thổ dân tìm đến để tổ chức tế lễ, lễ lạc, liên hoan để liên lạc với vũ trụ trời đất, thần linh, tổ tiên, cầu nguyện an sinh, hòa bình, chữa bệnh. Bằng chứng còn thấy ghi khắc lại qua các hình khắc trên đá (petroglyphs) và hình vẽ (pictograhs) trên đá ở Sedona và vùng lân cận.

Chúng tôi đã tới thăm một vùng có hình khắc trên đá lớn nhất và được bảo tồn nguyên vẹn nhất là Trang Trại V-V (dấu gạch ngang gọi là Bar, V-V Ranch đọc là V Bar V Ranch). Nơi đây tôi có cảm tưởng mình cũng tìm thấy những dấu tích của vortex mà thổ dân đã ghi lại qua hình khắc trên đá:

Hình khắc trên đá ở V-V Ranch, Sedona.

Ta thấy có:

  • Hình xoáy cuộn tròn.

Hình này thường hiểu có một nghĩa là sinh tạo, tạo hóa nhưng nó cũng làm liên tưởng tới vortex [vortex nòng nọc (âm dương) cũng có một khuôn mặt sinh tạo].

  • Hình xoáy vuông kép.

Như vừa mới nói ở trên hình xoáy tròn thường hiểu có một nghĩa là sinh tạo, tạo hóa, sáng tạo và hình xoáy vuông đơn cũng cùng nghĩa nhưng có góc cạnh mang nhiều dương tính hơn.

Ở đây ngày nay thổ dân hiểu hình xoáy vuông kép này có một xoáy đi lên trời và một xoáy đi xuống đất. Hai lực trời đất này ‘bắt tay nhau’ ở tâm hình vuông mang tính sinh tạo. Đây có thể là hình diễn tả Mẹ Tổ, Người Đàn Bà Nguyên Khởi đã nói ở trên. Điểm này được xác thực bởi nhiều thổ dân khác cũng coi Đất Vuông là Mẹ Sinh Tạo như thấy qua hình khắc trên đá Mẹ Đất Mặt Vuông sinh ra con Trời đầu tròn ở Công Viên Mesa Verde, Colorado.

Nhìn dưới diện chữ nòng nọc vòng tròn-que dĩ nhiên lực hướng thiên mang tính nọc, dương và lực hướng địa mang tính nòng, âm. Chuyển động xoáy mang tính sinh tạo. Hình vuông biểu tượng cho đất. Hình xoáy vuông kép này có một nghĩa là nòng nọc (âm dương) liên tác gây ra sinh tạo, tạo hóa cõi đất thế gian. Nhìn theo diện vortex, đây cũng có thể là xoáy sinh tạo, tạo sinh, năng lực, sức sống của cõi đất thế gian và cũng mang tính điện từ vortex ít nhiều.

Dù gì đi nữa thì Sedona vẫn được nhiều người, nhất là những ‘tín hữu’ tôn thờ vortex cho nơi đây là một trung tâm vortex đáng kể của trái đất này. Họ tin rằng vortex ở đây có thể giúp ích cho đời sống hiện tại và cũng có thể nối kết với những hoài niệm quá khứ  hay đã mất hoặc ngay cả với tiền kiếp.

Các tín hữu của vortex đã phát triển thành nhiều thể loại tu luyện tâm linh và trị liệu. Một Công đồng New Age (Thời Mới) đã thành hình có hành triệu người theo, trong giới lãnh đạo có Shirley MacLaine. Năm 1987, Sedona nổi tiếng là một trung tâm tâm linh. Nhiều người đã hành hương tới đây tham dự Harmonic Convergence (Hội Tụ Hài Hòa).

Có thật sự các vortex điện-từ này có tác dụng lên con người không?

Năng lực này được cho là liên tác với năng lực nội tâm của con người, giúp cầu nguyện, trầm tư mặc tưởng, thiền quán và chữa bệnh được dễ dàng.

Ben Lonetree và Iona Miller trong The Sedona Effect, Correlations Between Geomagnetic Anomalies, EEG Brainwaves, & Schumann Resonance in Sedona Vortex Areas chứng minh rằng có sự liên hệ giữa những khác thường của Sedona magnetic vortex và sự thay đổi các làn sóng não về tần số và biên độ, tiến xa thêm nữa chúng còn bị chuyển đổi bởi cộng hưởng Schumann (Schumann Resonance) và là những lượng tính hữu lý cho những hiện tượng tâm thể (psychophysical) và tâm cảm (psychosensory) đã từng được báo cáo. Sóng não địa từ đồng bộ hóa xẩy ra một cách tự phát tại các điểm vortex trong các biến cố từ lực đột nhiên.

Đi Tìm Vortex.

Chúng tôi cũng như nhiều du khách khác tò mò đi tìm vortex. Để có những cảm nhận khác nhau, chúng tôi chọn vào các thời điểm khác nhau trong ngày: lúc mặt trời mọc, buổi sáng, ban trưa, chiều xuống và lúc mặt trời lặn.

Thực sự votex bao trùm cả một vùng rộng lớn nhưng trong những vùng này có những ‘điểm nóng’, nơi có vortex mạnh nhất và có tác dụng lâu dài, vài ngày sau đó vẫn còn cảm thấy.

Sedona có bốn địa điểm nóng chính:

1. Airport Vortex.

Vào lúc tinh mơ khi mặt trời chưa mọc, chúng tôi dùng ‘Lối Mòn Xem Cảnh Sedona’ (Sedona View Trail) để xem toàn cảnh Sedona lúc mặt trời mọc.

Sau đó đi đến lối mòn ‘Vòng Đai Phi Trường’ tới địa điểm Vortex Phi Trường.

Vortex này nằm ở vùng yên ngựa giữa hai ngọn đồi hay cũng có thể cảm nhận thấy ở đỉnh đồi nhỏ ở bên trái.

Toàn cảnh Sedona View Trail vào lúc mặt trời mới mọc.

Năng lực tại đây được cho là ‘luồng đi lên’ (Upflow) mang tính nọc, dương, là một thứ vortex điện (electrical vortex) mang tính chủ.

Mini-Mesa (vortex site)

Vortex dương cung cấp năng lực dương làm tăng sức mạnh. Dương lực giúp vui tươi, sảng khoái, hưng phấn, trẻ lại, giúp con ngươi tự tin, có nội lực mạnh.

Airport Mesa Vortex

Buổi sáng tinh mơ, lành lạnh, đi bộ trong hoang dã, leo dốc núi (hiking), ở cao độ cao hơn 4.500 bộ, không khí loãng (ít Oxygen), cảm thấy buồng phổi mở rộng ra đón nhận không khí trong lành ban mai, tim đập nhanh hơn, đầu óc lâng lâng như bay bổng. Ánh sáng bình mình sưởi ấm tâm hồn và thể xác… Đứng tập thở giữa khoảng trời và đất của riêng mình. Quả thật có được cảm giác sảng khoái, hưng phấn cùng với bình minh. Phải chăng nhờ có vortex phụ trợ vào? Khó mà phân biệt rõ được. Có hay không cũng không nhằm nhò gì. Chỉ cần biết thân xác và tâm hồn mình như chắp cánh bay lên giống như những chiếc khinh khí cầu đang bay bổng lên trời cao.

2. Bell Rock Vortex.

Chúng tôi tới đây vào buổi sáng.

Khối đá có hình trông như chiếc chuông úp rất dễ nhận ra.

Một điểm có thể là do ngẫu nhiên nhưng rất lý thú và không giải thích được là tia sáng mặt trời buổi sáng khi tôi chụp Đá Chuông tạo thành một tia sáng, một đường sáng chỉ ngay chỗ có vortex mạnh nhất ở bên tảng Đá Chuông này . Dường như có một thứ gì siêu phàm hướng dẫn chỉ cho chúng tôi biết.

Cũng xin nói thêm là ở những điểm nóng ở đây có một điều lạ là nhiều lúc tôi và bà xã chụp ảnh, ảnh không hiện ra hay rất mờ, chụp đi chụp lại nhiều lần vẫn như thế. Nếu quay qua chỗ khác chụp thì hình rất rõ.

Vortex ở đây được cho là mạnh nhất. Có người cho là có tính dương chủ. Có người lại cho là có cả ba loại nòng, nọc (âm dương) và hài hòa.

Giải thích sau làm gợi nhớ tới chiếc chuông có cán của Tây Tạng (ghanta) mà Đức Dalai Lama thường dùng khi hành lễ.

Chuông có cán này có hình bầu nậm mang tính nòng nọc (âm dương) mang trọn vẹn vũ trụ tạo sinh, vũ trụ luận, dịch lý. Cán chuông là một dạng chùy kim cương. Như vậy cán là nọc, nõ, dương. Phần bầu chuông hình vòm vũ trụ, vòm trời là nòng, nường, âm.

Mật Tông cũng quan niệm như vậy. Chùy kim cương nhìn chung là nọc, dương, lửa, chớp, bộ phận sinh dục nam. Bầu chuông là âm biểu tượng cho âm đạo. Cả chuông và cán là nòng nọc (âm dương), nõ nường, vũ trụ vì vậy cả chuông cũng diễn tả mandala vũ trụ trọn vẹn…

Ta thấy rất rõ vortex ở Đá Chuông này cho là mang tính nòng nọc (âm dương) và nòng nọc (âm dương) giao hòa cho ra Hài Hòa và Cân Bằng giống hệt ý nghĩa của chiếc chuông có cán ghanta của Tây Tạng. Còn nhìn theo duy dương mang tính dương chủ thì cán chuông mang tính chủ.

Nói rộng ra ý nghĩa của các vortex Sedona được giải thích ăn khớp với nguyên lý nòng nọc (âm dương) như vortex chia ra: vortex dương, vortex âm, vortex âm dương, hài hòa…

Không biết có phải vì bị ảnh hưởng khi nhìn hình dáng khối đá như chiếc chuông úp làm liên tưởng tới núi vũ trụ, núi Meru, núi Tu Di, tới các tháp hình chuông Chedi của Phật giáo, tới chiếc chuông ghanta hay không mà ngồi trầm tư mặc tưởng ở đây có cảm tưởng như được nối kết với tam thế, vũ trụ. Con người tiểu vũ trụ hòa đồng với đại vũ trụ.

3. Red Rock Crossing/ Cathedral Rock Vortex.

Chúng tôi tìm đến Vortex ở Đường Ngang Qua Đá Đỏ (Red Rock Crossing) và Đá Nhà Thờ (Cathedral Rock) vào lúc trưa.

Những tảng đá đỏ tạo thành hình Nhà Thờ và Ba Nữ Tu Sĩ đứng soi bóng bên con lạch Cây Sồi (Oak Creek). Có người còn tưởng tượng ra hai khối đá chập vào nhau là hai bàn bàn tay chắp lại cầu nguyện.

Vortex ở đây cho là có tính nòng, âm, là vortex có từ lực (magnetic vortex) mang tính chủ. Vortex âm êm dịu, nuôi dưỡng.

Vortex âm phần cao mang tính thiện, tốt làm phát động lòng từ tâm, đam mê, nhẫn nhục, nhường nhịn.

Nhưng phần dưới mang tính ác, xấu có thể làm cho những người yếu ‘bóng vía’ cảm thấy bị kích thích, giao động và trầm cảm.

Giải thích tính âm của vortex ở đây cũng ăn khớp với tính nòng nọc (âm dương) của vũ trụ tạo sinh, dịch học. Hiển nhiên Đá Nhà Thờ với Ba Nữ Tu (nhà thờ thuộc dòng nữ) mang âm tính và con lạch, suối có nước mang âm tính thái âm.

Tìm Vortex ở Đá Nhà Thờ soi bóng trên con Lạch Cây Sồi.

Ngồi tĩnh tâm dưới bóng giáo đường thiên nhiên, bên dòng nước trong như lọc, rì rào hay trên tảng đá giữa dòng nước xoáy cuộn bao quanh.

Tâm hồn lắng dịu. Thanh thản. Thanh nhàn. Thanh tịnh. Thanh khiết. Thanh thoát. Có lúc có cảm tưởng xoáy nước quanh mình trở thành vortex tâm linh cuốn đi hết bụi trần, bụi đời, bụi thời gian…

Nhưng cũng khó mà biết rõ được có vortex đóng góp vào hay không.

Buddha Beach.

Đi tới, dọc theo con Lạch Cây Sồi khoảng một dậm đến một bãi đất bên con lạch gọi là Buddha Beach. Ở đây có hàng ngàn những chồng đá cầu nguyện (rock cairns). Một thành phố tháp cairns tí hon làm liên tưởng tới hàng ngàn ngôi chùa, tháp Phật ở Bagan, Myanmar. Có lẽ, vì vậy nơi đây mới có tên là Buddha Beach.

Những người đặt chân tới đây đã làm những chồng đá cầu nguyện này để cầu nguyện một điều gì cho bản thân mình, cho gia đình, cho dân tộc, cho đất nước họ và cho nhân loại.

Chúng tôi cũng làm những tháp đá chồng cầu nguyện, cầu cho cá nhân, gia đình mình, dân Việt, nước Việt và nhân loại.

Chúng ta có thể tự làm những chồng đá cầu nguyện riêng của mình hay làm thêm vào những tháp đã sẵn có của người khác nhưng không được lấy đá của tháp cầu nguyện của người khác làm của mình.

4. Boynton Canyon Vortex.

Chúng tôi dự định tới đây vào buổi chiều. Rất tiếc ngay lúc đó trời bỗng trở lạnh, nhiệt độ tụt xuống dưới 40 độ F nhưng tệ hại nhất là gió giá buốt thổi rất mạnh, chịu không nổi, đành phải bỏ cuộc.

Sáng hôm sau chúng tôi đã mua vé đi thăm viếng Antelope Canyon.

Vortex ở đây được cho là mang tính nòng nọc (âm dương), một thứ vortex hài hòa (harmony), cân bằng.

Những Địa Điểm Khác.

Ngoài bốn điểm nóng kể trên, như đã nói ở trên, vortex thấy khắp cả vùng Sedona. Sedona nói chung là vùng đất tâm linh vì vậy ở đây có nhiều trung tâm tín ngưỡng, tôn giáo như:

Nhà Nguyện Thánh Giá (Chapel of the Holy Cross).

Nhà nguyện làm ngay trên núi đá đỏ. Cây thánh giá cắm trên đỉnh đồi mang hình ảnh cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống).

Tại đây cũng cho là một điểm nóng vortex. Ngồi trong nhà nguyện dâng lời cầu nguyện có cảm tưởng như ngồi dưới tàn lọng của cây vũ trụ cứu thế.

Cảnh quan chung quanh nhà nguyện tuyệt vời. Tùy theo óc tưởng tượng của mỗi người, đá đỏ có nhiều hình dạng kỳ thú. Có một hình mẹ bồng con khiến tôi liên tưởng ngay tới Hòn Vọng Phu:

Sedona Madonna and Child Arizona Red Rocks

Sau này hỏi ra mới biết ở đây gọi là Đá Đức Mẹ Madona bồng Con. Dĩ nhiên đây là tên của các tín hữu Thiên Chúa giáo. Nếu hỏi thổ dân ở đây chắc chắn họ có một tên gọi khác.

Tháp Phật A Di Đà Tây Tạng Và Công Viên Hòa Bình (Amitabha Stupa and Peace Park).

Vào lúc chiều xuống chúng tôi tới Tháp Phật A Di Đà Tây Tạng nằm trong Công Viên Hòa Bình.

Tháp có gốc từ Phạn ngữ stupa có nghĩa là nấm mồ. Nguyên thủy tro thân, xá lợi Phật được chôn cất trong tháp để thờ phượng, tôn kính. Sau đó, ở những nơi không có được tro thân Phật, tháp được dùng để các tượng Phật, kinh Phật, các di vật (relics) liên hệ tới Phật và Phật giáo. Về sau theo thời gian tháp mang ý nghĩa biểu tượng cho vũ trụ quan của Phật giáoTháp được cho là mang hình ảnh núi Meru, núi Tu Di, núi Vũ Trụ.

Tháp Phật có kiến trúc theo vũ trụ giáo.

The front of the Stupa

Trong tháp A Di Đà này cũng vậy có chứa hàng triệu câu cầu nguyện, kinh kệ và các bảo vật thiêng liêng.

Theo nghi thức Phật giáo Mật tông Tây Tạng, khi bước vào vừa đi vừa xoay các ống cầu nguyện rồi đi ba vòng tháp theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm (Phật giáo là tôn giáo tĩnh mang tính âm) cầu câu chú của Phật A Di Đà là Om Ah Mi Dhe Wa Hri hay tổng quát hơn là câu chú Từ Bi vĩnh cửu Om Mani Padme Hum.

Cái đặc biệt ở đây là không có các tăng sĩ làm cho có cảm tưởng như tháp là của mọi người không thuộc riêng ai.

Chúng tôi chờ hoàng hôn xuống tập yoga Tây Tạng. Tập ở đây dường như cảm thấy thư dãn hơn khi tập ở nhà. Động tác quay vòng tròn như nhập vào vortex có cảm giác như thân mình nhấc bổng bay lên.

Những tiếng chuông gió phong linh (wind chime) vang vọng trong tĩnh lặng của hoàng hôn như thức tỉnh những tâm hồn bạo loạn hướng về hòa bình.

Mặt trời đã lặn sau rặng núi đá đỏ nhưng ngọn bảo tháp vẫn còn sáng trưng…

Và Còn Nhiều Nữa.

Ngoài ra ngay cả ở nhiều trung tâm thương mại cũng cho là có những điểm nóng vortex như tại khu bán hàng nổi tiếng Son Silver West chẳng hạn.

Sedona quả là nơi có xoáy cuốn điện từ. Điện từ giao tác ít nhiều với từ lực của người (trong tai có những vi tinh thể cảm nhận với từ lực. Loài ngỗng trời trong tai có những vi thể này giúp chúng tìm được phương hướng khi di cư vào lúc đổi mùa), với nhân điện như thấy qua điện não, điện tim, điện thịt da người. Có thể sự cảm nhận và tác dụng thay đổi tùy từng người. Có thể có người cảm nhận thấy. Có thể có người không. Có thể có ít xít ra nhiều. Có thể thương mại hóa. Có thể mê tín hóa. Có thể tà ma hóa… Nhưng có một điều thấy rõ ở đây người Tây phương đã sống với cái nhân sinh quan, vũ trụ quan dựa theo nòng nọc (âm dương), nguyên lý căn bản của vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, dịch lý. Đã quan niệm qua vortex con người có thể liên hệ với tam thế. Con người tiểu vũ trụ phải sống hài hòa với đại vũ trụ.

Dù gì đi nữa, nếu chỉ có mục đích tới đây để tìm sống với cái đẹp thần tiên của thiên nhiên, sống với vũ trụ trời đất, tìm cái an bình trong tâm hồn, giữ cho trái tim mình trẻ mãi không già… thì Sedona cũng đã là Đất Thần Kỳ.

Zion National Park

Du lịch công viên quốc gia Zion 

Chiêm ngắm vườn địa đàng ngay giữa lòng trần thế

Nhắc đến các công viên quốc gia được liệt vào hàng “tam đại mỹ cảnh” của bờ Tây nước Mỹ, chúng ta có thể kể ra 3 cái tên nổi tiếng: Yellowstone, Grand Canyon và Zion. Những ngọn núi hùng vĩ điệp điệp trùng trùng, những dòng sông mềm mại uốn mình đầy thơ mộng, những tảng đá nguyên khối đồ sộ, sừng sững nghìn năm tuổi… tại Công viên quốc gia Zion có khiến trái tim bạn thổn thức và bồi hồi? 

Là một trong 10 thắng cảnh đẹp nhất Hoa Kỳ, sở hữu nét quyến rũ đầy mê hoặc, công viên quốc gia Zion mang vẻ đẹp thần tiên tựa bức tranh cổ tích. Đến đây, du khách như lạc vào tiên cảnh, từng bước chân như đắm chìm vào một khu vườn địa đàng ngay giữa lòng trần thế ồn ã, xô bồ.

Nếu bạn đang ôm ấp giấc mơ du lịch, đừng bỏ qua vườn địa đàng Zion. Bất cứ nơi nào tại Zion cũng có thể khiến du khách vô cùng mãn nhãn và ấn tượng đến sửng sốt.

Đến đâu để tìm thấy vườn địa đàng Zion khôi nguyên, trong trẻo?

Zion là công viên quốc gia nổi tiếng bậc nhất tại xứ cờ hoa, nằm gần Springdale, thuộc tiểu bang Utah, phía Tây Nam nước Mỹ. Được tìm thấy vào năm 1858 bởi các tín đồ Mormons, Zion ngay lập tức chiếm trọn trái tim của những người du khách bởi nét quyến rũ của cảnh vật nơi đây. Ngẩn ngơ và say đắm trước vẻ đẹp thần tiên ấy, những người Mormons đã đặt tên cho vùng đất này là Zion, mang ý nghĩa “vườn địa đàng”.

Với không gian mênh mông đến hơn 600 kilometer vuông, thiên nhiên hữu tình, cảnh sắc kỳ vỹ, du khách có thể “lạc lối” tại khu vườn địa đàng này đến vài tiếng đồng hồ liền mà quên mất cả việc tìm lối ra.

Vườn địa đàng Zion thần tiên, quyến rũ đến mức nào?

Đến Zion, nét đẹp đầu tiên của “vườn địa đàng” khiến du khách ngẩn ngơ chính là màu nâu đỏ đặc trưng bao trùm không gian của những viên ngọc sa thạch mang tên Navajo. Dưới những tia nắng mặt trời, gam màu này trở nên cực lung linh và ấm áp.

Bên cạnh đó, là nơi giao thoa của ba mảnh ghép đầy màu sắc, bao gồm cao nguyên Colorado, lưu vực sông lớn và sa mạc Mojave, Zion đã trở thành một khu vườn cổ tích mang những sắc thái vừa đối lập vừa hòa quyện nhuần nhuyễn cùng nhau. 

Ba mảnh ghép tưởng chừng rời rạc ấy đã mang đến cho vườn địa đàng những phép màu nơi tiên cảnh. Zion trở thành ngôi nhà cổ tích cho gần 80 loài động vật, 300 loài chim, 50 loài lưỡng cư và bò sát… cư trú. Ngoài ra, đây cũng chính là thiên đường cho các thảm thực vật phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phong phú. Ở Zion, người ta có thể dễ dàng tìm thấy những cái cây với hình thù kỳ lạ và màu sắc vô cùng đặc biệt tưởng chừng chỉ có trong thần thoại.

Và rồi, Zion lại tiếp tục khiến du khách phải mãn nhãn và không ngừng xuýt xoa bởi vẻ đẹp đến nao lòng của khe núi hẹp mang tên The Narrows. Khe núi sâu, nước dâng cao tầm đến bụng người. Các động sa thạch xung quanh khá bé, chỉ vừa đủ một người len lỏi qua. Nét đẹp vừa hoang sơ vừa gần gũi khiến các du khách cứ tần ngần, ngẩn ngơ khó rời đi. 

Bao quanh The Narrows là làn nước mát trong vắt, nhìn rõ từng viên đá xinh xắn dưới tận đáy. Sự mềm mại, uyển chuyển và uốn lượn của dòng sông Trinh Nữ này đã khiến vườn địa đàng Zion vừa mạnh mẽ, rắn rỏi lại vừa dịu dàng một cách đầy mê hoặc.

Bên cạnh dòng sông Trinh Nữ, đến Zion, du khách chắc hẳn phải một lần đặt chân lên cung đường mang tên Riverside Walk. Là cung đường thu hút bậc nhất, trải dài 2 kilomet, với vách đá dựng đứng sừng sững dọc hai bên, Riverside Walk giúp du khách cảm nhận và trải nghiệm vườn địa đàng Zion một cách tuyệt vời và hoàn hảo nhất.

Thả bộ nhẹ nhàng quanh Zion, du khách như hoàn toàn đắm mình vào cõi thiên thai, cực lạc. Trái tim của mỗi người, dù khó rung động đến thế nào, đứng trước vườn địa đàng Zion, cũng bị chinh phục một cách tuyệt đối và trọn vẹn.

Cần ghi nhớ những gì nếu bạn muốn trải nghiệm và chinh phục vườn địa đàng Zion?

Công viên quốc gia Zion mở cửa đón khách suốt bốn mùa trong năm. Tuy nhiên, tại Tây Nam Hoa Kỳ, thời tiết đẹp nhất để thực hiện những chuyến hành trình rơi vào khoảng từ tháng Tư đến tháng Chín. Tuy nhiên, đây cũng là khoảng thời gian cực “hút” khách du lịch đến tham quan và thưởng lãm nên việc đông đúc là không thể nào tránh khỏi.

Ai lại chẳng một lần khao khát được lạc bước tại chốn địa đàng. Ai lại chẳng một lần ước mơ được đứng lặng ngắm dòng sông xanh mát màu ngọc lục bảo được điểm xuyết vài chiếc lá đỏ đậm sắc thu. Vậy, hãy ghé thăm công viên quốc gia Zion – vườn địa đàng ngay giữa lòng trần thế. Mãn nhãn đến ngẩn ngơ là những gì Zion sẽ dành để đón chào tất cả các du khách.

Pensacola Beach

Biển Xanh Vẫy Gọi

Trời đã bắt đầu vào hạ, vẫn còn những cơn mưa bất chợt nhưng nắng dường như nóng và oi bức hơn. Các bãi biển bắt đầu đông nghẹt, vì người người đỗ xô ra biển để vùng vẫy giải nhiệt cái nắng hè. 

Và chúng tôi cũng đi biển nhưng đi biển không phải để tắm nắng hay bơi lội ( vì sợ đen 🙂 ). Mà đi vì muốn khám phá một vùng đất mới và muốn được hội ngộ lần nữa cùng nhau để ăn uống, vui chơi là chính. 

Điểm hẹn hò của chuyến đi lần này là Pensacola Beach, Florida. Bãi biển nổi tiếng với cát trắng mịn và nước trong xanh màu ngọc bích. Và Pensacola Beach gần đây được Tripadvisor  bình chọn là một trong top 25 bãi biển đẹp của Mỹ. 

Khoảng 3 tiếng lái xe từ New Orleans LA. Chúng tôi có thể đến thành phố biển Pensacola thuộc tiểu bang Florida, nằm sát biên giới bang Alabama. Là một trong những thành phố lớn nhất Gulf of Mexico, duyên hải vịnh Mexico. Vùng duyên hải này bao gồm nhiều tiểu bang của Mỹ như Florida, Alabama, Missipi, Louisiana và Texas. 

Ngoài ra Pensacola cũng nổi tiếng với một biệt danh khác là thành phố 5 màu cờ ” The City of Five Flags “, vì 5 thế lực khác nhau cai trị thành phố này trong hơn 450 năm qua. Đó là : Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Miền Nam nước Mỹ thời nội chiến, và Mỹ ngày nay.

Tôi đã thật sự bị chinh phục khi vừa đặt chân đến bãi biển này bởi bờ cát dài mịn màng trắng phau và màu nước trong xanh biếc màu ngọc bích. Thời tiết hôm đó thật đẹp, nắng chói chang trời trong xanh với thật nhiều mây trắng bồng bềnh. Chẳng có dấu hiệu gì mưa gió , dù trước đó dự báo thời tiết có dự báo sẽ có mưa.

Nắng nóng dường như làm cho người bản xứ có vẻ thích thú hơn để được phơi nắng. Chứ chẳng như dân Á Châu cứ thấy nắng là trốn chui trốn nhũi vì sợ đen cho cái làn da vốn chẳng trắng trẻo của mình. 

Mặc cho các đấng mày râu vẫy vùng dưới làn nước trong xanh dưới cái nắng gắt trưa hè. Hai chị em chúng tôi cứ thong thả trú nắng, “tác nghiệp” và chờ … được đi ăn.

Sau vài tiếng vẫy vùng dưới các ông cũng đã mệt nhoài và đói bụng. Như chỉ chờ có vậy chúng tôi thu xếp đồ đạc để quay về và thưởng thức món nướng BBQ nổi tiếng của vùng đất Mississipi trên đường về. 

The Shed BBQ là một nhà hàng chuyên về đồ nướng BBQ nổi tiếng của Mỹ được Travel Channel bình chọn và giới thiệu. Điểm thú vị của nhà hàng này là được xây dựng khá sập xệ trên một khu đất trống với những thứ phế liệu, phế thải từ chiếc xe củ nát, cửa sổ hư, mái tôn củ …. mà chủ nhân của nhà hàng đã dành phần lớn thời gian ngoài giờ đi học của mình để đi lượm lặt từ những đống rác ngoài đường phố của đêm trước ngày đổ rác “night before trash day”.  

Không biết làm gì với đống rác thải đã lượm lặt được, sau khi tốt nghiệp Brad Orrison cùng cậu em trai và cô em gái đã thành lập nên nhà hàng BBQ từ những thứ phế thải trên . 

Và sau một thời gian dài hoạt động, Shed ngày càng hoàn thiện hơn khi tìm ra được thứ nước sauce riêng biệt cho mình với thương hiệu The Shed nổi tiếng của ngày nay.

Một điểm khá thú vị nữa là khách hàng sau khi đến ăn tại đây, đã “ủng hộ” Shed bằng cách để lại những biển số xe củ của họ. Vì vậy bạn có thể thấy bản số xe củ của tất cả các tiểu bang trên nước Mỹ được gắn la liệt trong khắp nhà hàng, bạn có thể gắn vào bất cứ nơi nào hoặc chổ trống nào mà bạn muốn gắn. 

Dù đã được đã được giới thiệu trước về đặc điểm nhà hàng này, nhưng tôi cũng khá bất ngờ và bối rối khi đặt chân đến. Có đi mới biết, thành công đôi khi lại từ những gì điên rồ nhất. 

Sau khi được nhân viên ở đây tư vấn, chúng tôi order phần Jumbo Shed Sampler Platter cho 4 người cùng ăn với nhau. Với 7 loại thịt và thêm 3 món phụ ăn kèm tự chọn. 

Chúng tôi đã chọn Potato Salad, Cole Slaw 

Và Mac and Cheese để ăn kèm

Với nhận xét của riêng cá nhân tôi thì BBQ Mỹ dĩ nhiên không ngon như VN rồi (cười). Vì BBQ Mỹ khá đặc trưng với mùi hôi khói ( vì họ nướng bằng cách xông khói với những loại gỗ đặc biệt ) và nước sauce khá ngọt, thịt thì khá mềm. Trong khi đặc tính của người VN mình thì lại thích phải còn dai dai mới ngon. Nhưng khi nhìn 2 người đàn ông thưởng thức một cách ngon lành thì có thể hiểu nó ngon thế nào rồi.

 Sau khi được đãi một chầu BBQ no nê, chúng tôi còn được AnhvaEm mua tặng cặp ly của tiệm để làm lưu niệm nữa chứ. Anh thiệt là dễ thương quá đi (cười nịnh nọt). 

Sau mấy ngày ăn chơi từ Chalmette đến Pensacola, ngoài món crawfish đặc sản quen thuộc mỗi khi đến đây đều được thưởng thức. Lần này chúng tôi được AnhvaEm thết đãi món cơm chiên crawfish của xứ sở này.

Và một món khá đặc biệt nữa trước khi về lại Houston, mà lần đầu tiên tôi mới được biết đến rất hấp dẫn là Gà lên mâm

Gà lên mâm đơn giản chỉ là xôi nấu bằng nước luộc gà an kèm với với gà luộc , gỏi gà xé phay, lòng gà xào. Nhưng tất cả lại được bày lên một cái mâm hay còn gọi là cái mẹt, cái nia trông rất ư là hấp dẫn và đẹp mắt. 

Gà sau khi bày lên mâm, khách không thể kiên nhẫn hơn nữa nên chỉ làm đại vài tấm tạch tạch chỉ để lưu lại kỉ niệm thôi. Và lẹ lẹ mà thưởng thức trước khi gà quá nguội mà mất ngon.  

Cám ơn AnhvaEm với tấm chân tình và lòng hiếu khách mà AnhvaEm đã dành tặng cho 2 chúng tôi. 

Design a site like this with WordPress.com
Get started