Kamakura

Đi chơi Kamakura trong một ngày

Huỳnh Văn Ba – Exryu USA  (*)

Người ta thường nói “nếu anh đi viếng Paris mà không đến Versailles thì chuyến đi như còn thiếu cái gì đó”. Tương tự như thế nếu đi viếng Tokyo thì anh nên dành tí thì giờ để đến xem Kamakura. Nơi đây chỉ cách Tokyo có 51 km thôi.

Sau khi đến Kamakura, để đi trong vùng lân cận ta dùng Enoden (江ノ電・Giang điện). Con đường sắt đơn tuyến nầy tự nó là một “tourist attraction”. Còn nếu thích chạy xe đạp như tôi, ta có thể mướn xe để di chuyển. Đây là cách đi chơi lý thú và lành mạnh nhất.

Kamakura là nơi bắt đầu cho Bakufu (幕府・Mạc Phủ, i.e. tent government) do Shōgun (将軍・tướng quân) Minamoto no Yoritomo (源頼朝) dựng ra. Bakufu là chế độ quân phiệt kéo dài từ 1185 đến 1868. Sau khi vua Meiji (明治・Minh Trị) trở lại nắm thực quyền chế độ nầy mới chấm dứt. Kamakura thường được ví như là “de facto capital” (thủ đô về thực tế) của Nhật. Nó được bao vây 3 mặt bởi núi non hiểm trở và một mặt ngó ra vịnh Sagami (相模湾) của Thái Bình Dương.

Kamakura Daibutsu – Liêm Thương Đại Phật

Kamakura có rất nhiều chùa chiền. Người ta thường đến đây để viếng tượng Phật lớn Kamakura Daibutsu (鎌倉大仏・Liêm thương đại phật) ở chùa Kōtokuin (高徳院・Cao đức viện). Cho đến hết thời Showa, đây là tượng Phật đúc bằng đồng (1) đẹp nhất và to nhất chỉ sau sau tượng Phật của Tōdaiji (東大寺・Nại lương) – Nara (奈良・Nại lương) thôi. Xưa kia tượng Phật nầy nằm dưới mái chùa và được phết vàng, nhưng sau vì bị bão to và sống thần “Tsunabi” (津波・tân ba) đánh đổ mái nên ngày nay trở thành Phật lộ thiên. Đây là một quốc bảo – cũng là symbol cho xứ Nhật xuất hiện trên nhiều postcards được gửi đi khắp nơi trên thế giới.

Phật giáo Nhật ở Kamakura có nhiều tông phái. Cũng giống như Kyoto, Ấn Đô và Trung Quốc, Thiền tông nơi đây có đủ Gozan (五山・ngũ sơn).

Kenchōji -Kiến trường tự:

Kenchōji – Kiến trường tự

Kenchōji (建長寺・Kiến trường tự) là thiền đường đứng đầu Gozan. Chùa nầy được Rankei Dōryuu (蘭渓道隆・Lan khê đạo long)(2) lạc khánh (落慶) vào năm 1253 theo chỉ thị của Thiên Hoàng Go-Fukakusa (後深草・Hậu thâm thảo) – đồng thời cũng được sự hỗ trợ về tinh thần của Shōgun Hōjō Tokimune (北条 時宗 Bắc điều thời tống)(3).

Chùa Kenchōji là một complex có đến 49 phân tự. Sau bao nhiêu năm chiến họa ngày nay chỉ còn 10 căn, trong đó có 1 cái Bonshô (梵鐘・phạm chung, chuông treo) là quốc bảo của NB.

Engakuji – Viên giác tự:

Engakuji (円覚寺 Viên giác tự) là ngôi chùa do Nam Tống cao tăng Mugaku Sogen (無学祖言・Vô học tổ ngôn) khai sơn, theo sự yêu cầu của Shōgun Hōjō Tokimune để tưởng niệm những anh hùng đã hy sinh trong trận chiến chống quân Mông Cổ vào năm 1274-1281.

Trong tiểu thuyết Senbatsuru (千羽鶴・Thiên vũ hạc – Ngàn cánh hạc) Kawabata Yasunari bắt đầu với “Kamakura Engakuji”. Đây là nơi giới “Trà đạo” đến để trao dồi và xã giao. Trong khuôn viên ngôi chùa nầy có một trà thất cổ kính đã từng đón tiếp Shōgun nhiều đời.

teahouse

Jufukuji – Thọ phước tự:

Jufukuji (寿福寺・Thọ phước tự) là chùa thuộc trường phái thiền Lâm tế và đứng hàng thứ 3 của ngũ sơn. Chùa có hang trong núi để giữ di cốt tổ tiên gọi là “Yagura” (窟 quật). Năm 1199 Hōjō Masako (北条政子・Bắc điều chính nữ)(4) cho xây chùa nầy để tưởng nhớ chồng mình đã chết vì tai nạng té xuống ngựa. Chùa do Myōan Eisai (明菴栄西・Minh am vinh tây) trụ trì.

Jufukuji – Thọ phước tự:

Jōchiji – Tịnh trí tự:

Jōchiji (浄智寺・Tịnh trí tự) là chùa đứng hàng thứ tư của Gozan và chỉ cách nhà ga Kamakura có 8 phút đi bộ. Thiền đường nầy do gia đình Shōgun Hōjō xây vào năm 1283 sau khi một người con của họ chết sớm. Chùa có 11 kiến trúc nhưng vì bị động đất lớn (Kanto daishinsai 1923), ngày nay chỉ còn cổng chùa và tháp chuông 2 tầng với cái chính điện được tái kiến sau nầy. Trên chính điện có điêu khắc ghi lại quá khứ, hiện tại và vị lai của đức Phật Như Lai.

Jōmyōji – Tịnh diệu tự:

Jōmyōji (浄妙寺・Tịnh diệu tự) là một thiền tự được đổi danh sau 1257 và đứng hàng thứ 5 trong Gozan. Xưa kia (1188) chùa nầy được Shōgun Minamoto cho xây theo sự chỉ đạo của cao tăng Taikogyoyu (退耕行勇・Thối canh hành dũng) dưới tự danh là Gokurakuji (極楽寺・Cực lạc tự). Vì bị động đất ngày nay chỉ còn chính điện, khách điện, Kuri, Sômon (惣門), và một vườn thiền “Karesansui” (cũng đọc là karesenzui -枯山水・khô sơn thủy) với một trà am rất thanh tịnh.

The main gate of Jomyoji Temple, Kamakura

Tokeiji – Đông khánh tự:

Tokeiji (東慶寺・Đông khánh tự) – đây là một nhánh của chùa Engakuji, vốn là một ni viện. Chùa do vợ của Shōgun Hōjō Tokimune xây (1285) sau khi ông mất. Đây là nơi cứu khổ cho nhiều thế nhân nữ giới trong đó đa số là những cô gái bị chồng hay nhà chồng bạt đãi. Thì ra nước Nhật cũng có ý thức về nhân quyền cho phụ nữ gần 800 năm về trước? – A di đà Phật!

Tokeiji, Kamakura’s Temple of Divorce

Ngoài Phật tự Kamakura cũng có khá nhiều đền thờ Shinto. Trong đó đền Tsurugaoka Hachiman-guu là vĩ đại nhất.

Tsurugaoka Hachiman-guu – Hạt cương bác phiên cung

Tsurugaoka Hachiman-guu (鶴岡八幡宮・Hạt cương bác phiên cung) vốn là một Đai Phật tự ở Zaimokuza (材木座・tài mộc tọa) thờ thần Hachiman. Năm 1191 đệ nhất Shōgun Minamoto no Yoriyoshi (源頼義) cho di thỉnh thần Hachiman (cũng đọc là Yahatanokami – 八幡神・bác phiên thần) của chùa nầy mang về Kamakura để dựng lên đền thờ thần Hộ quốc. Từ đó về sau Tsurugaoka Hachiman-guu trở thành trung tâm địa lý và văn hóa cho Kamakura.

Tsurugaoka Hachimangu, Kamakura

Từ phố Kamakura khi bước vào đền thờ nầy, ta phải đi qua một cái cổng sơn son đỏ gọi là Torii (鳥居・Điểu cư). Đây là một biểu trưng cho đền thờ Shinto. Kế đến là một cái cầu đá có tên là Taikobashi (太鼓橋・thái cổ kiều – cầu trống lớn), 2 bên có hồ sen do Hōjō Masako cho đào. Tiến sâu vào trong một tí ta đi đến 1 cái điện nhỏ gọi là Maiden (舞殿・vũ điện). Trước khí đến được chính điện mọi người phải leo hết 61 bậc tam cấp bằng đá. Mỗi độ Tết về hàng triệu thiện nam tín nữ đổ về đây để cầu được phước lành.

Chuyện về cây Ichō (銀杏・ngân hạnh, i.e. ginkgo) 800 tuổi

Phía bên trái của tam cấp có một cây Ichō khổng lồ. Xưa kia (1968 và 1998) lúc tôi đi viếng nơi đây, cây cổ thụ đó làm cho tôi tò mò và nhắc nhở đến những cây da gần chùa ở Việt Nam mình hay cây Giant Redwood trên vùng Yosemite. Trong chuyến đi chơi Kamakura lần nầy thật tâm tôi cũng muốn đến thăm cây Ichō tuy không biết “ông” năm nay bao nhiêu tuổi. Sau khi vượt qua khỏi Maiden tôi tìm mãi chẳng thấy cây to nào cả. Cuối cùng đến gần tượng con lân bằng đá, thấy có tấm “sign” trên đó có ghi nhiều câu rất dễ thương như “O-icho gambare” (cố gắng lên ông Ichō). Thì ra cây đã bị gió lớn đánh gãy hồi tháng 3 năm 2010.

Theo sự ghi chú gần đó, tuổi thọ của “ông” đã hơn 800. Người ta có kể lại là hồi thế kỹ thứ 12 khi Shogun thứ 3 của NB là Minamoto no Sanetomo bi ám sát, hung phạm đã trốn phía sau cây nầy.

Do sự phụ trách của giáo sư Hamano Chikayasu (浜野周泰), Tokyo Nodai (Tokyo University of Agriculture), cây đã được đào lên đem trồng lại (transplant) chỗ khác. Với điều kiện vệ sinh hơn và lòng ưu ái của dân Nhật, người ta hy vọng rằng cây Ichō nầy sẽ tiếp tục sống đến nhiều đời sau. Xin “banzai” O- Ichō Dono!

(1) Có thuyết cho rằng vào năm 1252 do Shōgun Hōjō Tokimune cho đúc

(2) Có thuyết cho rằng vào năm 1252 do Shōgun Hōjō Tokimune cho đúc

(3) để khống chế quốc gia qua Phật giáo. Đây là 1 chính sách chung cho chế độ Bakufu, nó kéo dài mãi cho đến cuối thời Edo (江戸・Giang hộ)- Vì họ không muốn dân gian trọng tín vào Shinto (神道・Thần đạo) nơi mà Thiên Tử (i.e. Thiên Hoàng) dựa vào để ngự trị trên đỉnh.

(4) Hōjō Masako (北条政子) là chánh thất của shōgun Minamoto no Yoritomo. Tiếng Nhật xưa kia gọi bà là “midaidokoro” (御台所・ngự đài sở – như Madam). Đây là một đại phu nhân có nhiêu quyền thế. Bà cạo đầu xuất gia sau khi chồng qua đời nhưng vẫn muốn điều khiển mọi chính sự trong nước. Vì thế bà có thêm biệt danh là “ama daidokoro” (尼台所・ni đài sở)và “ama shogun”(尼将軍・ni tướng quân. Ngày nay có rất nhiều drama diễn lại cuộc đời của bà.

One thought on “Kamakura

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started